Cái đầu tiên thứ 4: người Việt Nam đầu tiên là hội viên Hội nhân quyền Pháp 1906

NGUYỄN VĂN VĨNH người Việt Nam đầu tiên là hội viên

Hội Nhân quyền Pháp 1906.

 

(… một (người) dân muốn theo đòi văn minh thực, phải trọng cái tư tưởng riêng (của) từng người…)

A. Lịch sử.

Như tất cả những người quan tâm đến lịch sử đều biết, việc Thực dân Pháp chính thức xuất hiện ở phần phía Nam của đất nước Đại Nam, đó là vào nửa cuối của thế kỷ XIX.

Cho đến năm 1930, trong tiềm thức của người dân An Nam, hiểu một cách khái quát: Thực dân là một hình ảnh xấu, là sự chà đạp, là sự bóc lột, là sự bất bình đẳng… 60 năm trước đó, việc có mặt của họ trên một đất nước phong kiến, với nền nông nghiệp lạc hậu, nằm trong một thể chế tồn tại theo nguyên tắc truyền nối và chiếm hữu của chế độ quân chủ chuyên chế, đồng thời cũng là một thể chế chính trị mang trong mình quá nhiều sự yếu kém. Vậy tâm lý của người dân An Nam giai đoạn đầu trong 60 năm đó, liệu có nhận thức: thế lực ngoại bang mới xuất hiện này trên mảnh đất An Nam sẽ có diễn biến nào mang sắc thái tích cực để người An Nam hy vọng vào sự đổi thay mang tính tiến bộ hay không. Liệu sự xuất hiện mới này có điểm gì tốt hơn cái thực tại do chế độ Phong kiến đang duy trì hay không?!

Không thể phủ nhận, vào giai đoạn đó, người dân An Nam đã sống ở trạng thái tinh thần của một kẻ bị cưỡng bức và hầu như có rất ít cơ sở hiểu biết khoa học về chính trị xã hội để đánh giá và so sánh giữa cái hiện có và cái mới xuất hiện. Trong hoàn cảnh như vậy, làm sao để một dân tộc có thể hiểu rõ, hiểu đúng cái thân phận của chính mình trước một đối thủ quá xa lạ…xa lạ đến mức được định hình với sự mặc cảm của tư duy miệt thị: bọn mắt xanh, mũi lõ. Sự thấp kém nhìn từ mọi phía của xã hội An Nam ở bối cảnh lịch sử này, thật khó để một dân tộc tự xác định, đặt mình vào đúng vị trí của bàn cờ chính trị, với nhãn quan xã hội phù hợp, dù đó là vị trí của một kẻ ở thế bất lợi!

Một kẻ không có “chỗ đứng”, vì chưa có khả năng tìm được chỗ đứng, sẽ không quan sát được, không quan sát được thì lấy đâu ra nhận thức (kiến thức) để đặt ra những mục tiêu tồn tại có tính chiến lược, cùng với những chiến thuật phù hợp để ứng phó, chống lại sự uy hiếp của đối phương.

Thông thường, khi bị rơi vào sự uy hiếp gay gắt, bản năng sinh tồn sẽ mách bảo cá thể đó đành phải sử dụng sức mạnh của cơ bắp, một thứ bản năng mà tạo hoá vốn vẫn dành cho mọi loài động vật trên trái đất này. Nhưng nếu sự uy hiếp cứ diễn ra nhiều lần và liên tiếp, cá thể đó sẽ chẳng có lúc nào yên ổn để nghĩ và tìm ra được giải pháp cần thiết mang tính trí tuệ nhằm đối phó với hoàn cảnh mà mình bị áp đặt.

Trí tuệ sẽ từ đâu đến nếu không phải từ sự học hành. Các thân sỹ tiến bộ mà thời nào cũng có dù ít hay nhiều đều biết, sự học hành mới tạo ra được kiến thức, nhân tố số một để sinh ra trí tuệ.

giaoduc111dh8cnb6ey

(nguồn: Internet)

Trong các cuộc đụng độ, khi một cá thể phải tranh đấu bằng “cơ bắp”, nếu may mắn nhờ vào những cơ hội của vận mệnh, thoát khỏi được sự thôn tính của đối phương, thì sau đó, do thiếu kiến thức (tri thức), việc tư duy để xây dựng một xã hội hậu chiến, chắc chắn sẽ gặp khó trong việc đưa xã hội phát triển theo hướng tiến bộ. Chưa kể đến những hậu quả do việc sử dụng cơ bắp triệt để và liên tục trong các cuộc đụng độ, cá thể đó bị cạn sức lực, cùng với những vết thương hữu hình và vô hình giày vò dai dẳng, tạo nên những căn bệnh mãn tính trong cuộc sống tinh thần, cản trở nghiêm trọng việc xây dựng một xã hội phát triển. Và chính cá thể đó, hoặc quốc gia đó, vẫn sẽ là một đất nước lạc hậu vì kém phát triển, và do kém phát triển, đương nhiên lại sẽ là một cơ thể yếu, một quốc gia yếu để lại trở thành con mồi, cơ hội cho một sự thôn tính khác, trong khi cuộc sống chẳng bao giờ hết những kẻ muốn chinh phục!

B. Tác động.

Quá khứ, Việt Nam là một Nhà nước phong kiến nghèo khổ, tồn tại suốt gần 1000 năm Bắc thuộc. Lịch sử cho thấy, không có nhiều những biểu hiện mang tính hy vọng, hoặc cơ hội thể hiện khả năng kiến tạo một tương lai cho một quốc gia hưng thịnh. Nhà nước Đại Việt, rồi Đại Nam, rồi An Nam… đã ở trong tình cảnh tối tăm, lạc hậu cùng cực ở mọi phương diện, lại phải đối diện với sự áp đảo điên cuồng và “lạ lùng” của một lực lượng hùng hậu từ phương Tây ập vào, đến mức vì giận dữ, vì bất mãn, cộng với sự thiếu hiểu biết cả của chính kẻ đi chinh phục về bản chất thực của một dân tộc đã tạm thời bị khuất phục, và do chưa hiểu, không biết nên tất cả những gì của kẻ thù, đã đều bị coi là đáng ghét, ghét đến mức căm phẫn, dẫn đến cảnh:

“…Ngày xem ống khói chạy đen xì,
Toan ra cắn cổ..”.(1)

Ngày nhân sỹ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) bộc lộ sự phẫn uất có tính bản năng ấy, ông cay đắng và bất lực trước sự thô bạo của một thế lực ngoại xâm bạo tàn, ông mong muốn phải động viên dân chúng:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”.(2)

Có thể vì vậy, cho nên đến ba chục năm sau, tình cảnh của đất nước An Nam vẫn không đổi khác, thậm chí ngày càng suy kiệt, bế tắc. Cùng một lúc, hai tròng trên cổ của mỗi người dân (Thực dân và Vua quan), họ hà hiếp một dân tộc nghèo đói đến cùng cực, một dân tộc không hề được hiểu, rằng mình có được quyền gì để đòi sự công bằng. Xã hội đã rơi vào thảm cảnh gây thất vọng đến mức, Phan Châu Trinh (1872 -1926), nhà cách mạng tiêu biểu của lịch sử, đã không kìm chế được việc phải chứng kiến cái cảnh u mê, tăm tối của cả một dân tộc, ông than vãn trong Thư trước tác hậu bổ, viết bằng tiếng Hán(3) ngày 15.9 năm Thành Thái thứ 18 (1906) gửi cho Quan Toàn quyền Đông Dương Jean Baptiste Paul Beau với niềm hy vọng chân thành, có phần ngây thơ vào thằng người “Mắt xanh mũi lõ” kia sẽ nhân danh là kẻ khai sáng, kẻ có một lịch sử phát triển văn minh, sẽ động lòng trắc ẩn trước thực trạng:

Cả mấy mươi triệu người như một đàn ruồi, lũ kiến, không còn có chút nhân cách nào, đó là thảm trạng trước mắt ai cũng trông thấy, không phải tôi dám nói quá lời để vu cho người cả một nước đâu…”.

Phan Châu Trinh hơn ai hết so với những người đương thời, ông thấm cái cảnh đầu rơi máu chảy của những cuộc xung đột trong quá khứ. Ông không muốn cổ vũ cho sự đối đầu bằng cơ bắp. Và ông tin, ông hy vọng ở tính nhân văn của dân tộc Pháp, nơi phát xuất cuộc cách mạng dân chủ, làm gương trong việc đi tìm đến sự tự do, sự bình đẳng cho mỗi con người. Ông cũng thật tin vào tư duy nhân đạo tối thiểu, và là một giống người có văn hoá, khi trước mặt là một đối tượng yếu kém, nhu nhược hơn mình, sẽ mong họ điều chỉnh cái chính sách cai trị hà khắc đầy hiểm hoạ, đe doạ những người dân lành hiền trên mảnh đất đầy đau thương của ông.

Thực tế, xâm lược và chiến tranh đồng nghĩa với đổ máu, mất mát, thương đau, một điều mà để một nước không vướng vào cái cảnh đó, phải là một sự tính toán cực kỳ khôn ngoan và khéo léo của những kẻ trị vì. Đáng tiếc, Phan Châu Trinh lại không phải là kẻ đứng ở vị thế của kẻ có quyền cai trị.

Tuy nhiên, lịch sử đã có không ít những tình huống, hai bên xung đột điên đảo, đẩy nhau vào cảnh chết chóc, hoang tàn…nhưng thời gian trôi đi, họ đã không tự biến mình thành những kẻ thù truyền kiếp của nhau, họ đã cùng tìm ra giải pháp để sau đó trở thành những đồng minh lâu dài, hậu thuẫn và tạo dựng cho nhau sự phát triển đến kinh ngạc, mà trước đó, khi xung đột, họ chỉ muốn “ăn thịt” lẫn nhau.

Hình như, chưa bao giờ trong lịch sử, chúng ta thoát được cái vòng kim cô của lối tư duy tiểu nông, một đất nước thuần nông thì làm sao biết được những kiến giải của những nguyên lý khoa học chính trị và kinh tế học để nhận ra rằng, đối với một quốc gia, không có bạn hiền hay kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi là vĩnh viễn thôi.

C. Sức sống mới.

Vào bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lòng đất nước An Nam đã xuất hiện những yếu nhân thoáng hiểu được viễn cảnh như vừa nêu. Với bản tính hướng thiện kèm với cả sự lạc quan, họ đã thực tin vào những ý tưởng tốt đẹp của kẻ đã cam kết sẽ cùng nhau phát triển, sẽ cùng nhau khai hoa để cùng tồn tại, nhắm đến một cuộc kết giao theo lối: gạn đục khơi trong, tạo ra một sự thuyết phục qua quá trình giao lưu, rồi cảm hoá lẫn nhau, hướng đến một công cuộc Pháp Việt đề huề (4).

Những Nhà yêu nước thời ấy, họ hy vọng vào bản tính chất phác của dân tộc mình, họ tin vào sự tiềm ẩn bên trong nhiều tinh hoa trí tuệ, nếu biết cách chăm lo và nuôi dưỡng, nhất là khi được học hành, trí tuệ của người dân sẽ được bộc phát, tạo nên khả năng cảm nhận để có sự hoà đồng tối thiểu giữa mình và kẻ cai trị thông qua việc nâng cao dân trí, thông qua sự hiểu biết lẫn nhau và xác định được quyền của mỗi bên. Từ cái mốc tối thiểu, nó sẽ lớn dần và từ đó tránh đi những cuộc đụng độ gây máu chảy, đầu rơi, tránh cả được sự thù hận. Một xã hội ít hận thù mới làm nên cơ sở tinh thần cho sự phát triển một đất nước tiến bộ.

Những yếu nhân ngày ấy, họ cũng đã tính đến khả năng biện chứng, như trong những cuộc tình duyên cưỡng bức, mang tính số phận, con người ta vẫn có thể sẽ sinh ra trên đời này những đứa con khoẻ mạnh, đẹp đẽ, giàu tiềm năng cho sự phát triển, và điều này đối với xã hội chính trị cũng không khác biệt là mấy.

Tạo hoá trong nhiều giai đoạn lịch sử, đã tỏ ra hào phóng với nhân loại trong quá trình phát triển, từng thời kỳ, Trời đã sinh ra không nhiều gương mặt khác với đa số dân chúng. Cái khác người của những kẻ đó nhằm để lĩnh hội vai trò tiên phong, là kẻ dấn thân, kẻ đi trước để giúp những người cùng cảnh ngộ với mình.

Vào bối cảnh tăm tối của đất nước Việt Nam ngày ấy, sự xuất hiện một cậu bé nhà quê, chỉ nhờ học lỏm (học mót) mà thật giỏi tiếng Tây, rồi cả tiếng Tầu và đặc biệt là tình yêu nồng nàn với tiếng nói mẹ đẻ. Cậu đã ý thức rằng, con chữ là phương tiện số một trong đời sống văn hoá, đời sống tinh thần, có chữ con người mới đọc được, đọc được con người sẽ thay đổi cách tư duy, đồng bào mình sẽ hiểu mình là ai, mình có quyền gì, và qua đó sẽ tự thoát khỏi sự lầm than nhờ những kiến thức mà con chữ đem lại, hướng đến một môi sinh văn hoá tiến bộ, tạo dựng nhân cách, cốt cách cho một dân tộc, quyết tâm tìm đến sự độc lập, cơ sở để đem đến sự thịnh vượng. Cậu bé nhà quê đó tin có một ngày, nếu được học hành, đồng bào của cậu sẽ tìm đến được việc làm cho quyền con người của người dân An Nam sẽ ngang bằng quyền con người của với chính kẻ đang đô hộ mình, chấm dứt cuộc sống nô lệ….và người đó là Nguyễn Văn Vĩnh.

Với vô vàn những bài học của nhân loại trong lịch sử qua các cuộc cách mạng, kẻ nào được mệnh danh là người đi trước cũng phải biết rằng, những bài học nào có ích, có thể học được từ thiên hạ, từ lịch sử, hãy học cho đến nơi đến chốn. Việc học đương nhiên phải thông qua đọc. Có lẽ, do nhờ biết đọcđọc được, nên ngày ấy, cậu bé Nguyễn Văn Vĩnh đã thấm cái tư tưởng của Alexis-Charles-Henri Maurice Clérel de Tocqueville (1805-1859), một nhà chính trị danh tiếng của nước Pháp (tác giả của Nền dân trị Mỹ) đã nhìn nhận về cách mạng như thế nào:

“Chế độ phong kiến trước kia sụp đổ là do suy đồi và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng”.

D. Dấn thân.

Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, 15 tuổi, giữa lúc còn ở độ tuổi đang lớn, ông đã thành viên chức thái Tây trong hệ thống hành chính của Nhà cầm quyền. Nguyễn Văn Vĩnh sống trong môi trường được tiếp cận với sách báo và các ấn phẩm ở nơi ông làm việc, cộng với khả năng thiên bẩm, Nguyễn Văn Vĩnh đã ngộ ra và thấm cách tư duy có tính lý lẽ của nhân loại qua những sách báo “rơi” vào tay ông vì nhờ biết chữ. Ông đã thấm đến mức, sau này, trên con đường làm văn hoá, ông luôn nhắc nhở như một lời kêu gọi với đồng bào mình trên tờ báo mà ông là chủ bút: “Hãy học cách tư duy lô zích châu Âu!”. (Trung Bắc Tân văn -1917).

Ông mê cái tư tưởng của các nhà triết học, tư tưởng chính trị học thời đại khai sáng của thế kỷ XVII và XVIII, ông yên tâm vì hoá ra, đối với con người, các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban tặng. Các quyền này sẽ không bị phá hủy khi một xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” các quyền này, và đó chính là quyền làm người, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Nguyễn Văn Vĩnh đã tin tuyệt đối vào những nguyên tắc minh triết này!

Nguyễn Văn Vĩnh đã không cảm thấy xa lạ khi nhận thức thế nào là quyền con người, và quyền con người cần phải được quy ước mang tính tổ chức. Ông buồn vì, vấn đề tổ chức đối với người dân An Nam thời đó còn là những khái niệm xa lạ, thậm chí nếu có, nó ở trạng thái rất đơn giản. Ông có cách nhận thức rất rõ ràng và giản dị về ý thức của dân chúng trong việc lập hội. Minh chứng cho nhận thức này, chúng tôi xin giới thiệu trích đoạn bài viết của ông từ năm 1907 trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ “Đăng cổ tùng báo” số 821, ra ngày 10.10 có nhan đề: “Hợp Quần”.

Nguyễn Văn Vĩnh đã lý giải với các đồng bào của mình về khái niệm thế nào là Hợp – Quần. Theo quan sát của ông, việc lập hội chỉ để quần thảo lẫn nhau về tư tưởng giữa các thành viên của hội, sẽ là một điều vô bổ. Nguyễn Văn Vĩnh cũng xác định và giải thích về ý thức của những người chủ trương tạo dựng những nhóm người có cùng suy nghĩ để trở thành một hội. Theo ông, tâm nguyện của người dân về việc lập hội ở các quốc gia khác nhau không khác biệt nhau là mấy, giữa các hội nhóm của người Pháp, người Tầu hay người An Nam. Cái khác, đó là cái quy mô (tầm) của tư tưởng và cái mục đích (lý tưởng) của các thành viên khi tham gia vào các hội nhóm, và ông dẫn chứng:

“… Như ở nước Pháp thì nghĩa hợp-quần là người ta hội-tụ nhau lại để thi hành một cái ý chung.

Ở Tầu thì là người một xứ, hoặc cùng một phương hội-tụ nhau để binh vực nhau, cứu dúp nhau tuỳ ý người trên.

Ở nước Nam ta thì hợp-quần là người một đẳng, một làng, một nghệ, hội-tụ nhau để vui chung, vui có trên có dưới, vui trẻ vui trên, vui đóng vui góp, vui tranh nhau chỗ ngồi.

Ông Tây thì mở một Hội ra ai hợp ý thì vào…Chủ nghĩa cái Hội nhớn ấy là quản trị việc cho dân ai ai cũng giữ được tự-do, bình-đẳng, cho mỗi người giữ được kỷ phận của mình. Muốn giữ được như thế phải có luật-phép… nhưng một dân muốn theo đòi văn minh thực, phải trọng cái tư tưởng riêng từng người. Một nước mà mạnh là vì nhiều người tài, mỗi người một tài riêng, thì mới thực là mạnh mà mạnh bền. Ép nài nhiều cái hèn lại dàng buộc cho chặt lại mà thành ra được một mớ sức thì cái sức ấy là như vật lực mà thôi”.

(Đoạn văn trên đây, được chép lại nguyên văn với bút danh: T-N-T).

Một thanh niên 25 tuổi, học hành theo kiểu Man di (Mãi đến năm 1932 ông mới nhận ra mình như vậy), sống trong một xã hội luẩn quẩn ở một đất nước cực kỳ nghèo khổ, lúc nào cũng bị chi phối bởi lối nghĩ tự dối mình “…Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”, mà phần đất nơi ông sinh ra thậm chí ngày ấy còn chưa được gọi là thuộc địa. Tư duy của Nguyễn Văn Vĩnh hôm nay, chúng ta không thể không gọi là: tiến bộ! Thử hỏi nguồn cơn nào đã dẫn ông đi trên con đường lạ đến sững sờ như vậy?!

Qua tài liệu, ngài Hauser, Đốc lý Hà Nội (7/1905-2/1906) và (2/1907-4/1908), là tác nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến con đường sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Hauser, một luật sư được biết đến như một người có đầu óc tiến bộ, dân chủ, người đã có những đánh giá sâu sắc về năng lực lao động và tài trí khác người của Nguyễn Văn Vĩnh. Không vô cớ, khi Hauser còn là Công sứ Toà sứ Bắc Giang-Bắc Ninh (1902) đã quyết định cho cậu thông ngôn 20 tuổi làm Chánh Văn Phòng Toà sứ, vượt mặt cả Phó sứ Eckert, một nhân viên của Sở Mật thám Pháp phụ trách an ninh.

Với nhận định về Nguyễn Văn Vĩnh một cách đặc biệt như của Hauser, nên khi Hauser được điều chuyển về làm Đốc lý Hà Nội (1906), ông ta đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh về cùng. Đây là một trong những lý do để sau này Nguyễn Văn Vĩnh đã giành được sự nể trọng trong con mắt của những kẻ cầm quyền, đến mức được giao nhiệm vụ tổ chức gian hàng giới thiệu các sản vật Cochinchine (Đông Dương) tại Hội chợ Thuộc địa Mác Xây.

expo_marseille_1906_02[1]

Gian hàng Đông Dương tại Hội chợ các nước thuộc địa ở thành phố Mác Xây (Pháp) tổ chức năm 1906. Nguồn: Internet

Nguyễn Văn Vĩnh sang Pháp lần thứ nhất (1906). khi mới có 24 tuổi với vai trò là người chịu trách nhiệm, là cơ hội mang tính dấu ấn đối với ông. Dấu ấn, bởi lẽ: ngoài việc chứng kiến tận mắt xã hội và cuộc sống sinh hoạt của người dân Pháp, ông còn được tiếp xúc và quan hệ với những người Pháp không như hình ảnh đặc trưng mà ông đã chứng kiến ở quê nhà của những tên thực dân đầu đội mũ cát, tay chống ba toong, bụng phưỡn, mồm ngậm tẩu thuốc…lúc nào cũng hống hách, trịnh thượng với tác phong của một kẻ cai trị. Nước Pháp nơi ông đến và những người bạn Pháp mới của Nguyễn Văn Vĩnh đã giúp ông hiểu rõ hơn nhiều điều, cụ thể, thế nào là tự do, là bình đẳng và thế nào là quyền con người.

Với thời gian không dài sống trên đất Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy, ở nước Pháp những người có lối sống dân chủ như các ông Hauser và Schneider, những người không mảy may có thái độ hợm mình và tàn nhẫn như những tên thực dân mà ông biết, còn có rất nhiều những người Pháp thực sự là sản phẩm của cuộc Cách mạng Dân chủ 1789. Các ông Pierre Vierge và Lhermite mà Nguyễn Văn Vĩnh được gặp đã trở thành những người bạn tin cậy. Cảm kích trước bản lĩnh và trình độ hiểu biết đặc biệt về ngôn ngữ và văn hoá Pháp, ông Hauser và những người bạn mới này đã quyết định giới thiệu Nguyễn Văn Vĩnh với Hội Nhân Quyền (Ligue des Droits de l’homme), đồng thời, vận động Nguyễn Văn Vĩnh xin tham gia vào Hội. Thật lạ, kẻ cai trị giúp một người bị trị, công dân của đất nước thuộc địa vào một tổ chức đấu tranh đòi quyền bình đẳng!

Nhờ những hiểu biết sâu rộng, Nguyễn Văn Vĩnh đã không đắn đo để trở thành hội viên người An nam đầu tiên của Hội Nhân Quyền Pháp, đó là năm 1906.

Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện quyết định này, vì hơn ai hết, như đã dẫn ở trên, ông ngây ngất với khẩu hiệu đặc trưng của Cách mạng Pháp 1789 đó là: Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Nguyễn Văn Vĩnh đã ý thức được giá trị và nội dung của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (26/8/1789) là hệ quả của việc tiếp thu những tinh hoa từ “Công ước nhân dân” của cách mạng Anh năm 1688, đồng thời, nội dung đó cũng chính là “Tuyên ngôn độc lập” Mỹ 1776. Cơ sở triết học của bản tuyên ngôn này là tư tưởng về “Phép tự nhiên” và “khế ước xã hội” của hai học giả khai sinh ra nó là John Locke (1632-1704) và Jean-Jacques Rousseau (Giăng Giắc Rút-xô 1712-1778). Khi trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh đã ra công dịch các tác phẩm nổi tiếng của các triết gia này ra tiếng Việt. Nguyễn Văn Vĩnh không muốn để đồng bào của mình phải tìm đọc các luận thuyết tư tưởng kinh điển đó qua các bản dịch tiếng Hán.

Nguyễn Văn Vĩnh đã lao vào cuộc chiến đấu vô hình không có tiền lệ trong việc làm cách mạng tư tưởng đối với đồng bào mình khi nói về nguyên lý của đấu tranh dân chủ. Nguyễn Văn Vĩnh đã hiểu chính xác rằng, nhân quyền phải được nuôi dưỡng dựa trên những giả định mới về quyền tự chủ của mỗi cá nhân. Trước khi có nhân quyền, mỗi dân tộc cần phải hiểu được rằng, mỗi cá nhân riêng lẻ hoàn toàn có thể tự đưa ra những nguyên tắc đạo đức độc lập. Việc trở thành thành viên của một cộng đồng xã hội được xây dựng dựa trên nguyên tắc mỗi cá nhân phải là một thực thể đạo đức độc lập, đòi hỏi cá nhân đó phải có khả năng đồng cảm với người khác. Mọi người chỉ có được quyền của họ khi tất cả đều được nhìn nhận theo một cách cơ bản là như nhau. Quyền bình đẳng không chỉ là một khái niệm trừu tượng hay một khẩu hiệu chính trị, nó phải được bản chất hóa dưới một hình thức nào đó. Nhờ vậy, ông đã sử dụng chính tờ báo do mình là chủ bút để giúp đồng bào mình hiểu được khái niệm về quyền tự do cá nhân như sau:

“…Đạo đức cá nhân là ở chỗ thực hiện tự do của mình tránh không phạm đến tự do của người khác, không làm cản trở họ bất cứ điều gì, không tạo ra một lý do gì làm cho họ phản đối việc thi hành tự do của mình. Một cách để tự do của mình có giới hạn trong thực hành sẽ tự động ngừng lại ở chỗ bắt đầu tự do của người khác…”.

E. Kết.

Từ ngày người Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh tham gia vào tổ chức Nhân quyền của người Pháp với mục đích đấu tranh giải thoát một dân tộc nô lệ, ông đã làm nhiều cách giúp người dân nước mình hiểu được cái quyền làm người của mỗi người, tính đến nay đã hơn một thế kỷ. Một thế kỷ qua đi, việc mỗi người dân ở đất nước này hình như vẫn lúng túng trong việc định nghĩa thế nào là quyền con người. Đến mức, hôm nay chúng ta vẫn khá vất vả trong việc xác lập cả quyền được im lặng của mỗi người, thậm chí đưa dư luận đến chỗ nghi ngại xem cái quyền đó có đúng là quyền của con người không? Trong khi, từ gần 100 năm trước, tiền nhân đáng kính của chúng ta, nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), từng là Viện Trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời Pháp thuộc và là Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1946) đã xác định cái quyền đó như một cương lĩnh: “Nếu không có quyền nói thì ít ra cũng giữ được cái quyền không nói những điều người ta buộc nói” (báo Tiếng Dân 1927).

Mới thấy Nguyễn Văn Vĩnh đã đi xa đến mức nào?!

Thật mỉa mai, ở đời, những kẻ đi nhanh quá hơn bình thường lại là lý do để mai hậu và đặc biệt với những người có đầu óc đố kỵ với kẻ đi nhanh đó, “quên” đi một cách có chủ ý.

Tuy nhiên, việc nhớ hay quên một con người cũng không thể ngăn cản được quyền con người trong một xã hội, vì quyền con người là nhân tố không thể thiếu dẫn đến mối quan hệ dân chủ, và dân chủ càng trở nên là một đòi hỏi bắt buộc trong bất cứ một xã hội chính trị nào, bởi lẽ dân chủ chính là oxy đối với một cơ thể sống! Chân lý này không bao giờ cũ, bắt chấp cả câu ngạn ngữ của người Anh “Đừng bao giờ nói không bao giờ!”.

Chúng ta có thể tin rằng, với cả một quãng đường dài đấu tranh tồn tại và phát triển, những người chịu trách nhiệm về vận mệnh của dân tộc, ngày hôm nay cũng đã xác định:

“…Không một quốc gia nào có thể thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở tất cả các cấp cũng như trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng dân chủ trực tiếp càng sâu rộng và thực chất thì dân chủ đại diện càng hiệu quả…” (5).

=================

Chú thích:

(1) Theo yêu cầu của Tuần phủ Đỗ Quang (Gia Định), Nguyễn Đình Chiểu đã làm bài văn tế, viếng 15 chiến sỹ đã hy sinh trong một trận đánh, chống lại những tên Pháp thực dân năm 1861 tại Cần Giuộc.

(2) Trích trong bài “Văn Tế Nghĩa Sỹ Cần Giuộc”

(3) Ngày 15.9.1906, Phan Châu Trinh viết bằng tiếng Hán văn bản kiến nghị gửi cho ngài Toàn Quyền Đông Dương, được gọi nôm theo tiếng Việt là: “Thư trước tác hậu bổ”. Nguyễn Văn Vĩnh lúc mới 24 tuổi, theo yêu cầu của Phan Châu Trinh đã dịch toàn bộ bản kiến nghị này sang tiếng Pháp “Lettre de Phan Chu –Trinh au gouverneur général en 1906”. Năm 1933, khi Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút tờ báo tiếng Pháp “L’Annam Nouveau” (Nước Nam mới), ông đã cho đăng lại toàn văn bản kiến nghị này trên các số báo: 223, 224 và 225 ngày 26, 30/3 và ngày 2/4.

Nhân ngày giỗ của Phan Châu Trinh, số đặc biệt của tuần báo “Tân Dân” in tại Hà Nội ngày 24.3.1949 đã cho đăng lại toàn văn bản kiến nghị này bằng tiếng Việt, bản dịch của giáo sư Đặng Thai Mai (1902-1984, nguyên Bộ Trưởng Giáo dục VNDCCH, Viện Trưởng đầu tiên của Viện Văn học VN).

(4) Thập kỷ đầu tiên ở thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước liên tục xuất hiện, tạo mối lo ngại cho Chính Phủ Thuộc địa. Đối phó lại với bối cảnh đó, thay vì trước một viễn cảnh cai trị không thời hạn, thực dân Pháp đưa ra một viễn cảnh: nước Pháp sẽ nhân danh là người dìu dắt và khai hoá cho dân tộc Việt, giúp đất nước An Nam phát triển…và chính sách đó được gọi là Pháp – Việt đề huề.

(5) Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam.

BBT tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *