“Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp


Chỉ với tập thơ mỏng Ngày xưa, bằng một nét riêng, độc đáo, nó đã phác họa cả một bức tranh không chỉ là huyền thoại, mà còn mang đậm hơi thở phong tục cùng những nét văn hoá tâm linh và trí thức của hàng ngàn năm văn hiến. Dường như chưa có tác giả nào làm được như vậy!

Sau gần 60 năm ngày mất (19/11/1964 – 19/11/2013), mỗi lần nhớ đến Nguyễn Nhược Pháp, hẳn phần lớn chúng ta, lại nhớ  tập thơ Ngày xưa (1935) của ông, với vỏn vẹn 10 bài thơ. Mặc dù, theo Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân: Nguyễn Nhược Pháp ngoài thơ có viết nhiều truyện ngắn và kịch, thế nhưng, chỉ với 10 bài đã đủ khiến Nguyễn Nhược Pháp dành được một vị trí xứng đáng trong làng Thơ mới.


“Ngày xưa” do Cảo Thơm ấn hành năm 1966

Nguyễn Nhược Pháp là con trai thứ của học giả, dịch giả văn học, nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và là em nhà thơ Nguyễn Giang. Ông sinh năm 1914 tại Hà Nội, mất năm 1938, hưởng dương 24 tuổi. Ông làm thơ từ năm 18 tuổi. Tác phẩm đã đăng trên các báo Annam nouveau, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí, Nhật tan, Hà Nội báo…

“Ngày xưa” là thi phẩm đầu tay của Nguyễn Nhược Pháp. Bản sách in lần đầu do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935. Về sau in lại nhiều lần, nhưng được nhiều người  ưa chuộng nhất là bản in của Nhà sách Cảo Thơm (Sài Gòn, 1966), do họa sĩ Thái Tuấn vẽ minh họa.

Tác phẩm thứ hai và cũng là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Nhược Pháp có tên Người học vẽ (kịch), do nhà in Trung Bắc Tân văn xuất bản (Hà Nội,1936). Theo tài liệu, đây là hài kịch ba hồi, trước kia đã đăng tải trên Hà Nội báo. Đến hiện nay, tác phẩm này không thấy phổ biến.

Ngoài ra, trên bìa sau thi phẩm Ngày xưa, người đọc còn thấy có rao sẽ xuất bản tập thơ Ngày xanh, hiện vẫn chưa ai biết số phận tập thơ ấy ra sao.

Với tác phẩm Ngày xưa, ngay sau ba năm ngày mất Nguyễn Nhược Pháp, Hoài Thanh đã viết với những lời tán thưởng trân trọng: Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được?  Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa.

Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những sắc màu tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những “thắt lưng dài đỏ hoe”, những đôi “dép cong” nho nhỏ…

Còn nhà phê bình Tự Trị, người cùng thời Nguyễn Nhược Pháp cũng cho rằng: Tôi chắc là Nguyễn Nhược Pháp vừa viết thơ vừa tủm tỉm cười. Tôi chắc ông Giang đọc thơ em cũng tủm tỉm cười. Những bác thợ xếp chữ ở nhà in cũng đã cười và ai đọc đến cũng sẽ cười…

Thật vậy, có thể xuyên suốt 10 bài thơ của thi phẩm Ngày xưa, Nguyễn Nhược Pháp  đã thể hiện nên những bức tranh hoài cổ, thơ  mộng, nhưng đầy tươi sáng, bởi tứ thơ thông minh, với những vần điệu vui tươi, dí dỏm. Đặc biệt, nơi đây, mỗi bài thơ có thể được xem là một câu chuyện nhỏ, mà tác giả thường dùng chữ “xưa” để làm nền dẫn dắt người đọc bước vào một quá khứ mờ ảo, lung linh: “Ngày xưa, khi rừng mây u ám/Sông núi còn vang um tiếng thần” (Sơn Tinh Thuỷ Tinh), “Ta ngồi bên tảng đá /Mơ lều chiếu ngày xưa” (Tay ngà), “Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi/Nên yêu người cũ hồn trên cao” (Đi cống), “Người xưa mơ nhìn mây/Đen, đỏ, vàng đua bay” (Mây)…

Theo một số nhà lý luận, cái “Ngày xưa” trong thơ Nguyễn Nhược Pháp chính là cái “hiện tại” của tác giả mà thôi. Thế nhưng, nếu nhìn lại cách sắp xếp thứ tự trước sau của 10 bài thơ, chúng ta dễ dàng nhận ra nơi đây có sự cố ý mang tính biên niên sử. Cụ thể: Sơn Tinh Thủy Tinh, đến Mỵ Châu Trọng Thủy… rồi cuối cùng mới đến Mây, Chùa Hương. Trong số đó, bài được nhiều người nhắc nhớ hơn cả là “Chùa Hương”.

Theo tài liệu của nhà thơ Nguyễn Vỹ (Phổ thông số 20, ngày 1/10/1959), người đã cùng Nguyễn Nhược Pháp và  hai  bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội  Chùa Hương năm 1934, khi đến rừng mơ, hai thi nhân gặp một bà mẹ  cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật.

Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên đi hai cô bạn gái đi cùng. Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ: Hôm nay đi chùa Hương/Hoa cỏ mờ hơi sương/Cùng thầy me em dậy/Em vấn đầu soi gương/Khăn nhỏ, đuôi gà cao/Em đeo dải yếm đào/Quần lĩnh, áo the mới/Tay cầm nón quai thao… Bài thơ sau đó đã được phổ nhạc như được chấp cánh bay xa và lan tỏa rộng trong người đọc.

Hoài Thanh trong bài viết “Một thời đại trong thi ca”, đã xếp Nguyễn Nhược Pháp vào dòng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”. Bởi, chỉ với tập thơ mỏng Ngày xưa, bằng một nét riêng, độc đáo, nó đã phác họa cả một bức tranh không chỉ là huyền thoại, mà còn mang đậm hơi thở phong tục cùng những nét văn hoá tâm linh và trí thức của hàng ngàn năm văn hiến. Dường như chưa có tác giả nào làm được như vậy! Chính vì vậy, nhìn lại giai đoạn văn học sử 1930-1945, thật khó thể hình dung, nếu thiếu đi “Ngày xưa” thì  phong trào Thơ mới sẽ để lộ ra một khoảng trống buồn tẻ biết bao?

Bài và ảnh Trần Trung Sáng

Theo Thoibaonganhang.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *