Cái đầu tiên thứ 3 – Bài dịch thơ ngụ ngôn của La Phông Ten đầu tiên, trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ 1907

A.Lời dẫn

Nhìn nhận một cách tổng quát về sự nghiệp và cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta sẽ thản nhiên mà nhận thấy rằng, hình như tất cả những bước đi của ông trong sự nghiệp đều mang sắc thái của định mệnh.

Nói là định mệnh, bởi lẽ, khi Nguyễn Văn Vĩnh bắt tay vào việc thực hiện bất kỳ một điều gì đó có tính chất mới mẻ trong sự nghiệp lao động sáng tạo, từ góc độ nhãn quan xã hội, ông cũng chỉ có một suy nghĩ rất đơn giản rằng: cái này cần, cần phải làm cái này…!

Chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu với các bạn độc giả bài thứ ba trong chương mục: “Nguyễn Văn Vĩnh, những bước khởi đầu”.

B. Ngọn nguồn

Ngày 6 tháng 6 năm 1884, hòa ước Patenôtre được ký kết tại kinh đô Huế gồm có 19 điều khoản, chia nước Đại Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung KỳNam Kỳ dưới ba chế độ khác nhau. Mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng như là ba nước riêng biệt. Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đình nhà Nguyễn trên danh nghĩa vẫn được quyền kiểm soát (Wikipedia).

Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam được Bách khoa toàn thư mở giới thiệu một cách ngắn gọn và dễ hiểu như trên, giúp chúng ta hình dung được quá khứ tổ chức hành chính và thể chế chính trị của Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ. Vậy bản chất nó là gi?! Hoàn cảnh chính trị lúc đó đã ảnh hưởng ra sao đến nền văn hoá và cuộc sống tinh thần của người dân nước Nam?! Thực tế này đã mặc nhiên biến thành sự khác biệt không nhỏ liên quan đến nền dân trí của cả một dân tộc trong bối cảnh bị chia cắt nhằm phục vụ cho chiến lược cai trị. Rõ ràng đó là rào cản ngẫu nhiên trước việc những nhà ái quốc chân chính vật vã tìm giải pháp canh tân đất nước, một đất nước vừa bị chia để trị, vừa bị kéo níu bởi lối sống phong kiến ngàn đời thâm căn cố đế, lại còn bị giằng xé giữa những ý thức hệ khác nhau, những tôn giáo khác nhau, lại vừa có đến hơn 90% người dân không có và không biết chữ !

Đương nhiên trong chúng ta hôm nay, chẳng ai có khả năng để cảm nhận hết những khó khăn phải nói là khủng khiếp của một dân tộc khi rơi vào tình cảnh phải “lặn lội” đi tìm một con đường ánh sáng cho đất nước mình như giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Khẳng định: Việt Nam vào thời điểm đó, nhìn từ góc độ văn hoá, tinh thần và cả vật chất là vô cùng tù túng, nghèo nàn và đương nhiên phải là rất lạc hậu. Bao nhiêu ngôn từ trong kho tàng tiếng Việt nói về sự cơ cực của giai đoạn lịch sử đó, chắc cũng chẳng thấm vào đâu!

C. Sinh sôi

Sẵn với lương tâm, sống đầy khát vọng, và thêm cả trí tuệ, chỉ bằng huý tâm văn hoá, Nguyễn Văn Vĩnh đã mạnh dạn can dự vào cuộc cách mạng văn hoá tinh thần của người Việt Nam mà không loại trừ, chính ông cũng không chủ trương “làm Cách mạng” theo lối tư duy như sau này của hậu thế !

Người đời sau không thể nghi ngờ nếu để tâm tìm hiểu rõ căn cốt trong tư tưởng và nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh về lý do vì sao, ông thấy cần phải giúp cho người dân có được tri thức, bởi lẽ, ông luôn tin rằng: tri thức sẽ giúp con người ta thoát được sự lầm than và đói nghèo. Đặc biệt khi chúng ta đọc lại một đoạn văn ghi lại lời phát biểu của ông ở một trong những buổi diễn thuyết cả bằng tiếng Việt và tiếng Pháp tại Hội quán Trí tri, một loại hình hoạt động văn hoá, cổ xuý cho sự học trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội năm 1907. Ông giãi bày:

“Giả sử ta hiểu rõ hơn được sự nhu cầu về vật chất của người ta, và biết cách lợi dụng cực khôn khéo các tư cách của cá nhân, mà lại có lòng thiết tha, tôn trọng các hình thức cuộc phát triển và tiến bộ của cá nhân, thời tất nhiên là có thái độ luân lý. Nhưng luân lý là ở cả trong tấm lòng thiết tha ấy. Tuy khoa sinh vật có thể giúp ta thích dụng cái chí làm điều thiện một cách thiết thực hơn, nhưng đối với cuộc hành động của cá nhân tuyệt nhiên nó không có cái quan hệ nhân quả vậy. Sinh vật học chẳng qua chỉ vạch cho ta biết đâu là điều hay lẽ phải theo nghĩa là người, cái công ấy kể cũng đã to lắm rồi. Duy luân lý mới có quyền sai khiến ta thực hành điều hay lẽ phải ấy. Khi nào luân lý chỉ bảo ta biết được rằng điều hay lẽ phải ấy phù hợp với điều hay lẽ phải theo nghĩa luân lý…”(1)

Suy luận theo lô zic, với tư tưởng và nhận thức như trên, nó chính là cơ sở để Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện bước thứ nhất trong sự nghiệp văn hoá của mình, và ông tìm cách lựa chọn, dịch các tác phẩm văn học kinh điển của nhân loại được viết bằng tiếng Pháp, để phục vụ cho mục tiêu: Duy luân lý mới có quyền sai khiến ta thực hành điều hay lẽ phải ấy và Nguyễn Văn Vĩnh quyết định dịch tập truyện thơ ngụ ngôn của Jean de la Fontaine (1621- 1695) (La Phông Ten hay theo âm Hán Việt một thời người xưa thường gọi là Lã Phụng Tiên).

Từ đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy lý do cội nguồn đã dẫn dắt Nguyễn Văn Vĩnh dấn thân theo con đường làm văn hoá. Mặt khác, Nguyễn Văn Vĩnh lựa chọn dịch truyện của La Phông Ten vì theo đánh giá của lịch sử: La Phông Ten cũng là nhà thơ Pháp duy nhất hiểu và làm chủ những kết cấu tinh vi trong ngôn ngữ Pháp trước cả Victor Hugo (Theo Gustave Flaubert-Wikipedia).

Giai đoạn 1897 đến 1900, Nguyễn Văn Vĩnh tuy chỉ 15 tuổi, nhưng danh chính đã là viên chức thông ngôn cho Toà xứ Lao Cai, một cơ quan hành chính đại diện cho Chính phủ Thuộc địa, nó khác rất xa về môi trường văn hoá nếu như trước đó, theo truyền thống, ông theo Nho học để trở thành quan chức trong hệ thống cai trị của hệ thống hành chính xã hội Phong kiến.

Vậy là, nhờ môi trường công việc, cộng với ý thức tìm tòi, học hỏi, cộng với trí thông minh thiên bẩm, Nguyễn Văn Vĩnh đã tắm mình trong những nhận thức mới nhờ có sách báo tại chính nơi mình làm việc, bất chấp cả việc những thứ sách báo đó không hẳn giành cho đối tượng là kẻ làm thuê như ông tại những văn phòng ông hành sự. Một thực tế chỉ ra rằng, nếu ông có đỗ đạt theo hệ thống giáo dục phong kiến nhờ học giỏi, rồi tìm được một chức quan gì đó trong bộ máy hành chính của hệ thống xã hội đương thời, ông sẽ vẫn quẩn quanh với võng lọng, mũ chuồn và hia, hài không hơn!

Năm 1907, cuộc cách mạng văn hoá(2) mang tên Đông Kinh nghĩa thục(3) được nhà yêu nước Phan Châu Trinh lãnh đạo, nhưng người đứng ra chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà cầm quyền Thực dân lại là Nguyễn Văn Vĩnh(4) (Mặc dù lúc này ông đã tự nguyện xin thôi làm công chức cho bộ máy chính quyền Pháp). Lịch sử đã xác nhận, đây là phong trào cách mạng của những chí sỹ yêu nước!

Vậy phong trào Đông Kinh Nghĩa thục đã tổ chức thực hiện công việc truyền thông bằng cách nào? Kinh nghiệm cho lịch sử nhiều bài học, mà bài học vô cùng sáng giá đã được đúc kết, đó là tổ chức mạnh mẽ công tác truyền bá, vận động kêu gọi, lôi cuốn sự tham gia của càng đông người càng tốt. Các phong trào cách mạng của nhân loại đều theo nguyên tắc này. Còn các thân sỹ yêu nước Việt Nam lúc đó đã thực hiện theo phương thức nào?

Tất nhiên, các nhà yêu nước đã phải tìm nhiều cách, nhưng cái cách có thể đem lại giá trị xã hội to lớn và có khả năng chuyển tải được tinh thần của một cuộc cách mạng, đó nhất định phải là ngôn ngữ, là báo chí, là sách vở. Tất cả những thứ vừa nêu, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, xã hội Việt Nam đều chưa có hoặc không có!

Việc trong xứ Nam kỳ trước Đông Kinh Nghĩa thục đến ba chục năm đã xuất hiện những thân sỹ xuất chúng như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của…, là những con người thiết tha với tiếng nói mẹ đẻ, thiết tha xây dựng một nền học vấn, họ còn có cả một khối lượng kiến thức khổng lồ nhờ được đào tạo và học hành có hệ thống (Trưong Vĩnh Ký là người công giáo), và họ cũng nhận thấy đây sẽ là sức sống trí tuệ của một dân tộc, thậm chí họ còn được hậu thuẫn cả của lực lượng cai trị. Các ông cũng đã làm rất nhiều để mong cho tinh thần đó được lan toả. Nhưng những cố gắng của các thân sỹ đó đã bị dừng lại trong một phạm vi giới hạn của lịch sử.

Đồ rằng, có thể, nguyên nhân của sự không thành công đó vì chính hệ thống và ý thức chính trị của 3 kỳ đã ngăn cản sự vươn lên của nỗi niềm hy vọng quảng bá đó của các thân sỹ Nam Kỳ?! Cũng có thể vì sự xung khắc tôn giáo giữa đạo Phật và đạo Gia Tô trong xứ Nam Kỳ là vô cùng gay gắt, thậm chí phải nói là khốc liệt, đã tạo nên sự bài xích trước một xu hướng mới trong đời sống văn hoá tinh thần. Để rồi cuối đời, chính ông Trương cũng đã phải bất mãn mà than rằng:

“…Rằng tuy ăn ở cùng Tần

Bâng khuâng nhớ Hán muôn phần xót xa…”(5)

Có thể, chính cái sự nghiệt ngã của cái xã hội dở giăng dở đèn đó, nó đã dập vùi những kẻ tiên phong để không thể trở thành những hạt nhân của một phong trào, và để rồi biến thành cao trào như Đông Kinh Nghĩa thục ở Hà Nội năm 1907. Đông Kinh nghĩa thục, ngọn lửa tinh thần văn hoá linh thiêng bùng cháy, vận hội cho những tâm hồn ái quốc, cơ hội ngàn vàng cho sự chia tay với nền giáo dục nô bộc, và người Việt Nam đã giành được cơ may đến được một cách vững chắc với thứ chữ viết do số phận ưu ái ban tặng : nói thế nào thì viết như vậy.

Không có thủ lĩnh, không có phong trào, không có phong trào không thành cao trào…và sẽ không thể tạo nên bước ngoặt cho lịch sử, dấu ấn cho lịch sử. Điều này chúng ta đều biết!

D. Hành sự

Giáo sư sử học Chương Thâu, chuyên gia nghiên cứu về Nhà yêu nước Phan Bội Châu đã đưa ra nhận định khi nói về Đông Kinh Nghĩa thục: Đăng cổ tùng báo chính là cơ quan ngôn luận của phong trào Đông Kinh Nghĩa thục!

Tiếp cận với quan điểm của giáo sư về nhận định tờ Đăng cổ tùng báo là cơ quan ngôn luận của một phong trào, chúng tôi chưa thấy thực thuyết phục nếu không có một ngày, chúng tôi tìm được tờ Đăng cổ tùng báo số 813 ra ngày 15.8.1907. Tờ báo đó đã đăng toàn văn kiến nghị của các thân sỹ yêu nước gửi Nhà cầm quyền, yêu cầu cho phép và hậu thuẫn việc thành lập “Hội dịch sách”. Bản kiến nghị này do chính Nguyễn Văn Vĩnh thảo và đọc toàn văn ngày 26.6.1907 tại Hội quán Trí tri (la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin)(6) ở 47 phố Hàng Quạt Hà Nội, trước 300 cử toạ. Ngay đoạn đầu của bản kiến nghị đã nêu như sau:

“Ở thế-dan này, xem trong các nước gọi là nước văn-minh, là cũng có văn-chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế. Mà cái văn-minh người ta cũng ở đó mà ra, vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để chuyển sự hay đi trong nước ai ai đều học được cả…Một cách nữa là nghĩ điều gì hay, làm ra sách thì tư-tưởng chuyển đi được xa, mỗi quyển sách in ra nhiều người

đọc được…Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần…”

Nay kính trình.

Đỗ-Văn-Tâm. Hiệp-biện-đại-học-sĩ;

Trần-Văn-Thông, Đốc-học tràng hậu-bổ;

Lương-Văn-Can, Giáo-trưởng Đông-kinh-nghĩa-thục;

…………………

Nguyễn-Văn-Vĩnh, Chủ bút Đại-nam-đăng-cổ-tùng-báo.

Phục vụ cho chủ trương cũng như đường lối khai dân trí của Đông kinh nghĩa thục, đồng thời chứng minh sức sống của Hội dịch sách do Nguyễn Văn Vĩnh đề xướng và sáng lập, ông đã chính thức cho đăng câu chuyện dịch đầu tiên từ tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten có tựa đề: Chuyện con chó sói và con chiên con trên số báo 821 ra ngày thứ Năm 10.10.1907.

Sự kiện này đã đánh dấu sự nghiệp dịch văn học của Nguyễn Văn Vĩnh, mặc dù cho đến tận năm 1928, các câu chuyện trong tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch mới được in thành sách, được minh hoạ bằng tranh vẽ của hoạ sỹ Mạnh Quỳnh, tại nhà in Trung Bắc Tân văn và chính thức đưa ra thị trường.

Năm 1969, Nhà Xuất bản Cảo thơm Sài Gòn đã cho tái bản tập truyện dịch này. Thú vị vì trong cuốn sách tái bản của Nhà Xuất bản Cảo thơm có đăng cả lời tự bạch của tác giả khi dịch tập truyện thơ này. Để thấy rõ hơn cái tâm cái nguyện của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi so sánh nội dung của hai lần tự bạch, một trên Đăng cổ tùng báo số 826 ngày 14.11.1907, một trên cuốn sách in năm 1928 (cách nhau 21 năm), chúng tôi nhận thấy những chi tiết rất hệ trọng liên quan đến sự nghiệp dịch của ông.

Thứ nhất:

Lời tự bạch năm 1928 có câu: “Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu lắm rồi, khi còn ít tuổi chưa làm văn vần bao giờ…”.

Lời tự bạch đăng trên Đăng cổ tùng báo năm 1907 không có ý này. Như vậy, chắc chắn Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch các dịch phẩm này từ khi ông còn đang ở độ tuổi 20 và cũng từ khi trình độ tiếng Việt của ông còn rất non trẻ.

Thứ hai:

Lời tự bạch năm 1907 có đoạn: “…Và các ngài cũng biết cho rằng dịch lấy đúng mà lại còn vần thì nghe vẫn khó, nhưng các ngài có xem nguyên-bản bằng chữ Pháp cho, thì mới biết được rằng cũng đã dùng sức lắm…”

Trong lời tự bạch năm 1928 lại có đoạn: “…nhưng các độc giả cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh thần…”

Qua hai câu trích dẫn trên, chúng ta hiểu rằng, cái lo trong lao động dịch của Nguyễn Văn Vĩnh là nỗi lo thường trực, thể hiện cái trách nhiệm của người dịch, cái trách nhiệm của người chuyển tải những tinh hoa văn hóa của nhân loại đến với độc giả ở nước mình.

Thứ ba:

Trong lời tự bạch của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1907, chúng ta cảm nhận được tính dâng hiến trong lao động của ông, tính tiên phong trong công việc của ông, nên ông đã viết: “Chúng tôi thì cũng là khí liều, nhưng có người dám liều thế thì mới có người khác làm hay hơn”.

E. Minh hoạ

1. BBT. Tannamtu.com xin trân trọng giới thiệu với các quý vị độc giả nguyên văn câu chuyện ngụ ngôn đầu tiên của La Phông Ten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch và in trên Đăng cổ tùng báo số 821 ngày 10.10.1907 tại Hà Nội (Việc chép lại giữ nguyên văn bản đã in trên báo). Vì điều kiện kỹ thuật, chúng tôi sẽ cố gắng tìm cách giới thiệu trang báo nguyên bản này trong một dịp gần nhất.

2. Chúng tôi cũng xin giới thiệu 2 câu chuyện khác của La Phông Ten được cho in thành sách để đưa ra thị trường năm 1928, rồi đến năm 1942 lại được tái bản tại Hà Nội cùng với tranh vẽ minh hoạ của họa sỹ Mạnh Quỳnh. Nhà Xuất bản Cảo thơm Sài Gòn tái bản năm 1969. Đặc biệt, trong minh hoạ bằng tranh vẽ của hoạ sỹ Mạnh Quỳnh, ở góc dưới câu chuyện còn có cả chữ ký của hoạ sỹ.

3. Câu chuyện “Con chó rừng và con cò” là một trong hai câu chuyện mà Nguyễn Văn Vĩnh đã đặt khảm trai trên bộ tràng kỷ được làm vào tháng 12 năm 1919. Hình ảnh chúng tôi giới thiệu trên chiếc ghế tràng kỷ, chính là bức hình phù điêu được thể hiện dưới chân ngôi mộ của La Phông Ten hiện đang tồn tại ở nghĩa trang lớn nhất thành phố Paris Père-Lachaise (Cimetière du Père-Lachaise) và là một trong những nghĩa trang nổi tiếng nhất thế giới.

Trân trọng!

Nguyễn Lân Bình.

BBT.Tannamtu.com.

IMG_6566

IMG_6563

Chú thích:

1. Sách “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” trang 49. NXB. Trí thức HN 2013.

2. Quan điểm của giáo sư Chương Thâu trong sách “ Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục” trang 11. NXB. Hà Nội 2010.

3. Đông Kinh nghĩa thục, phong trào cải cách xã hội Việt Nam từ tháng 3.1907 đến tháng 11.1907.

4. Dẫn lời của nhà giáo, nhà nghiên cứu sử Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc (1926-2012) trong tập 2 của bộ phim tài liệu lịch sử “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” 2007.

5. Trích trong bài viết của Hồng Lê Thọ, 7.2008.

6. Là một hiệp hội dân lập với chủ trương quảng bá tân học gồm các đề tài khoa học như vệ sinh, phong tục, cùng các kiến thức mới lạ đến trí thức Việt Nam từ năm 1892 đến 1945.

=========================

Đăng cổ tùng báo, No 821, Jeudi, 10 Octobre 1907

TẬP THƠ, PHÚ, CA, RAO.

TRUYỆN: CON CHÓ-SÓI VÀ CON CHIÊN CON

Dịch ở tập thơ Dĩ-vật-giáo-nhân của ông La Fontaine làm ra

 

Lý kẻ khoẻ bao giờ cũng cứng

Như chuyện nầy thử đứng mà nghe

Chiên con một bữa vào khe

Cúi đầu uống nước bỗng nghe tiếng gầm

Rật mình Chiên cũng hàn-tâm

Trông ra chó sói lăm lăm lẻn vào

Sói ta bụng đói như cào

Lên cơn tức giận ào ào mắng Chiên

Làm sao ngươi quá bạo gan

Nước tao vẫn uống đục lên vì mày;

Tội mi láo xược phen này bảo cho

Chiên ta sợ hãi đứng so

Muôn tâu Lâm-chúa thứ cho lần này

Quả tôi lòng thảo giạ ngay

Tôi uống dưới này, Điện-hạ trên kia

Hai mươi bước cách quãng khe

Nào tôi làm đục một li nước nào

Sói càng đổ diệt ngay vào

Chính mày làm đục của tao cãi gì ?

Thôi đi ! đừng trối nữa đi

Rủa tao năm ngoái những gì nhớ không ?

Chiên rằng : Muôn lạy Sói-công

Vốn tôi năm ngoái chưa trông thấy ngày (1)

Quả rằng đến tận ngày nay

Tôi còn hãi phải bú ngày bú đêm

Sói rằng: ờ phải ! tao quên !

Anh mày kia đấy, tội em anh làm

Thưa ông thực quả là oan

Tôi nhà con một, anh em đâu mà

Sói rằng: cũng họ gần xa

Chẳng mày thì lại ông cha họ hàng

Giống Chiên thôi cũng một làng

Chúng bay quen thói chửi quàng chửi xiên

Nể tao gi ? họ nhà Chiên !

Từ thằng cầm-bậy-đi-chăn xược mình

Chó-săn-bay cũng bỉ khinh

Gặp mày nay thật là tình-cờ cho

Im ngay ! tao cấm được ho

Phen này thù giả để cho sau trừa

Chiên ta chưa kịp nhời thưa

Bỗng đâu Sói đã quắp đưa vào rừng

Dứng ngay một xó dửng-dưng

Vật chiên sử thịt không từng khảo tra

Cứng tay thì lý vẫn già

Phụng dịch hơi y nguyên-bản trong sách “Hải-lục-cách-ngôn” của ông Đỗ Thận.

(1) Nghĩa là: chưa sinh ra.

T-N-T

========================

TRUYỆN: CHÓ RỪNG VÀ CON CÒ

Cho rung va con co

========================

TRUYỆN: CÁC LOÀI VẬT PHẢI BỆNH DỊCH HẠCH

Benh dich hach 1

Benh dich hach 2

Benh dich hach 3

Comments

  1. Nguyen Ngoc Lanh

    Thời thuộc Pháp, tôi học tiểu học, đã được học nhiều bài thơ ngụ ngôn do Cụ dịch rất thoát, sang tiếng Việt.
    Cụ Nguyễn Văn Vĩnh sẽ có vị trí cao quý trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
    Nhất định tôi sẽ làm điều gì đó, tuy nhỏ nhặt, để góp phần phục hồi chính thức thanh danh nhà văn hóa hàng đầu này.

    • Nguyen Lan Binh

      Hầu hết các quý vị độc giả sinh ra ở thập niên 20 và 30 thế kỷ trước, cũng như các thế hệ học sinh, sinh viên lớn lên ở miền Nam trước 1975 đều mang trong lòng sự hàm ơn sâu sắc đối với các tác phẩm văn học dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Nhận thức này trở thành tiêu chí hoạt đông của BBT trang thông tin tannamtu.com.
      Chúng tôi rất cảm kích trước tình cảm và tấm lòng của độc giả Nguyen Ngoc Lanh đối với đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
      BBT chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc nhiều hơn nữa để đem đến cho các quý vị độc giả những khám phá ngoạn mục về con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh!
      Trân trọng!
      Thay mặt BBT Tannamtu.com
      Ng.Lân Bình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *