Cái đầu tiên thứ 2

Ngày 25.8.2014

Tôi hiểu, dù là thời nào thì cuộc sống vẫn luôn có những biến động. Những biến động của cuộc sống ảnh hưởng mặt nào đó đến từng cá nhân, tuỳ thuộc vào lối sống và tính cách riêng của cá thể đó.

Là người theo đuổi một đề tài không mang tính thời sự, nhưng tự bản thân, tôi nhận thức rằng nó luôn gắn liền với thời cuộc theo nguyên lý của thuyết nhân quả. Tôi là người hay dùng từ “Tự dưng”, mặc dù hiểu nghiêm túc và sâu sắc rằng, trên đời này không có bất kỳ điều gì là vô cớ, là “tự dưng” cả! Mọi hành xử của con người đều xuất phát từ sự nhận, biết và sau đó là tư duy, mà khả năng tư duy của mỗi “thằng” người đến đâu, lệ thuộc vào nhãn quan xã hội và môi trường tồn tại của “thằng” người đó.

Tôi lập luận như trên vì sự nhận thức đau đáu rằng, tuổi trẻ của Nguyễn Văn Vĩnh và cả cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh đã tồn tại với một bộ óc hoạt động không ngừng nghỉ. Những bộ óc hoạt động không ngừng nghỉ để sáng tạo ra cái mới, để cái mới ấy có ích cho đời, tôi thấy người đời gọi đó là hoạt động khoa học! Vậy có thể gọi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà khoa học không?

Đã có một giai đoạn khá dài, thế hệ trước chúng ta khoảng năm chục năm, họ đã tranh cãi, thậm chí với cả thái độ gay gắt khi có người đã phủ nhận cả việc gọi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà văn? “họ” chỉ muốn gọi ông là nhà báo thôi… Nói gì đến nhà khoa học!

Thông qua những di cảo do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, cho đến giờ này, tôi chưa thấy có ai phủ nhận tính hiện hữu của những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã dày công thực hiện. Tôi thấy, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh cũng không khi nào thể hiện lối sống rằng, mình làm những việc đó để sẽ trở thành cái gì đó, hay là ai đó, buộc hậu thế phải coi trọng! Với tôi, ở một góc nghĩ nào đó, đây là nhược điểm của Nguyễn Văn Vĩnh, bởi lẽ khi hậu thế tìm hiểu về quá khứ, người ta không hề tìm được một cách hệ thống những trước tác của ông theo dạng lưu trữ để đời, lưu trữ truyền nối (Không tính những sự tàn phá có chủ đích của những thế lực khác nhau do không muốn nhìn nhận giá trị của Nguyễn Văn Vĩnh). Cái để đời của ông, chính là những gì ông đã làm, và những gì ông làm lại không dành riêng cho một bộ phận đối tượng xã hội nào, ông làm cho tất cả! Ông luôn nhận thức chân thành rằng: cái này cần cho mỗi con người, cái này cần cho xã hội, cần cho sự phát triển trí tuệ của giống nòi… và ông làm, làm thành công!

Những ngày vừa qua, dư luận đã rất vui mừng khi đón đọc bài “Molliere ở An Nam”. Sự hài lòng của công chúng là điều chúng tôi vui sướng. BBT tannamtu.com sẽ coi bài Molliere ở An Nam là bài số 1 trong chương mục chứng minh những cái đầu tiên mà Nguyễn Văn Vĩnh là kẻ khởi xưóng trong quá khứ lịch sử văn hoá ở Việt Nam, đặc biệt là phần phía Bắc Việt Nam mà trong lịch sử chính trị gọi là Bắc Kỳ. Tôi xin nhấn mạnh cách phân chia địa chính trị trong lịch sử Việt Nam hơn 100 năm trước là vô cùng hệ trọng vì nó gắn liền với lịch sử của quá trình mở rộng bờ cõi quốc gia, dân cư vùng miền mà trong đó sắc thái văn hoá đâ giữ một ảnh hưởng sâu đậm.

Để khách quan, chúng tôi xin mời các quý vị đọc bài Bài thơ tiếng Việt đầu tiên của học giả Nguyễn Văn Vĩnh” (của Đỗ Huệ trên báo Đại Đoàn Kết ra ngày 22.10.2013). Bài viết như một sự minh chứng cho quan điểm của PGS. Nguyễn Hữu Sơn khi bàn về tính chất diễn ngôn lịch sử của thơ mới trong bài Phong trào Thơ mới như một diễn ngôn lịch sử” đăng trên Văn học quê nhà ngày 21.8.2014.

Sự lý giải về cội nguồn Thơ mới có thể khác nhau song quan sát dòng chảy Thơ mới sẽ thấy rõ xu thế tiếp nhận, ảnh hưởng và khả năng hòa nhập với nền thơ hiện đại trong khu vực và thế giới”

.

*************

Chứng minh với các bạn đọc quan tâm đến lịch sử thơ mới ở Việt Nam, trước khi giới thiệu trích đoạn bài thơ du ký của Nguyễn Văn Vĩnh viết năm 1906, chúng tôi xin trích dẫn ý kiến nhận định của những nhà văn hoá tên tuổi trong lịch sử văn hoá Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về thơ như sau:

Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy.

(Phạm Quỳnh 1890-1945, báo Nam Phong số 5 năm 1917).

Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy”.

(Trịnh Đình Rư viết trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 42 ra ngày 20.2.1930)

Theo tôi thơ mới là vấn đề thời đại chứ không giản đơn chỉ là phong trào. Chữ quốc ngữ, thơ mới, văn xuôi mới xuất hiện như là bước ngoặt lớn trong văn hóa Việt Nam. Trước đó văn học Việt Nam thuộc văn học khu vực, loại hình trung đại, sau đó văn học Việt Nam đã là bộ phận của văn học thế giới, thuộc loại hình hiện đại, mở ra một thời đại mới, sáng tác theo những quy luật mới.

GS. Trần Đình Sử. “Địa vị lịch sử của Phong trào thơ mới” 19.4.2013.

Nhìn nhận về quá khứ lịch sử mà chỉ thông qua sự hiểu biết và cách nhìn của một vài cá nhân, một vài tư liệu có được theo phương thức “nhặt nhạnh”, chắc chắn sẽ không bao giờ là đủ và là chính xác. Tuy nhiên, nếu phải ngồi để trông đợi sự “thiện ý” và tính trách nhiệm của những người có nghĩa vụ quan tâm…chúng ta đã gặp quá nhiều sự thất vọng. Suy nghĩ của tôi, chúng ta hãy nói lên bất kỳ điều gì chúng ta nghĩ với ý thức trách nhiệm và vì lương tâm trước sự minh bạch với quá khứ. Quá khứ không rõ ràng, hôm nay luôn là sự ngờ vực, và cuối cùng, chúng ta lại trở về với câu nói của người xưa dành cho những ai tôn trọng sự thật là: “Thà đi tìm kiếm sự thật suốt một đêm, còn hơn phải nghi ngờ nó suốt một đời!”.

***************

expo_marseille_1906_02[1]

Ảnh hội chợ thuộc địa mac xây 1906

572_001

… Mơ màng qua đất Âu-la,

Ngó coi một ít nào là văn minh.

Xem sao lại kẻ hơn mình,

Thử xem con tạo có tình gì chăng.

Mà đông lại điểm sắc vàng,

Tây thì để trắng, Nam màng mịt đen.

Xem cho đến tận ý trên,

Thử xem vàng đỏ trắng đen nghĩa gì.

Hay là châu hạt biệt ly

Hay là lấy sắc để bì trí khôn?

Cố sang đến tận lang môn

Để xem người trắng bán buôn thế nào?

Ngoài cường trong nước làm sao

Dạy người thế ấy, luật nào trị dân?

Lân bang giao thiệp xa gần?

Văn chương bác học phú bần thể nao?

Dân gian hưởng thái thế nào?

Luân thường phong tục làm sao khác mình?

Thử xem hai chữ văn minh,

Có làm dân đảng hiển vinh hơn người.

Kể từ ước đã mấy mươi,

Bỗng đâu hòng chín được mười rõ may!

Nhân kỳ đấu xảo Mac-xây,

Nghìn chín trăm sáu tới ngay thật vừa.

Nhớ ơn bảo hộ linh thừa,

Theo đoàn thuyền thợ dân đưa mọi người,

Đầu năm vừa quá mười mươi,

Xếp thu hòm xiểng để xuôi Hải Phòng.

Bạn xưa đưa đón mừng lòng,

Đó đây vài chén ước hòng nhiều câu.

Họ hàng kẻ tủi người sầu,

Tiễn chân cho đến thang tầu “Cachar”.

Thuyền vừa quay mũi giở ra,

Một giờ đã điểm chuông nhà Sáu Kho.

Trên thuyền chưa dứt lô bô,

Lườn sông đã quá biển to đương vời.

Vừa may sóng gió thuận giời,

Gác tầu chễm chệ trông giời nước xanh.

Bốn bề ngó quất ngó quanh,

Ngàn giời xanh với nước xanh một ròng.

Sớm chiều nhật nguyệt đôi vừng,

Cứ quen lý cổ mọc đông lặn đoài.

Lườn thuyền tiếng nước êm tai,

Nhắc thời vùn vụt canh dài ngắn không.

Mặt giời vừa tỏ hai đông.

Trước nơi Đà Nẵng đã trông thấy bờ.

Đến chiều, vừa đúng bảy giờ,

Trông vào còn thấy mập mờ Tourane.

Đỗ tầu xuống chiếc tam ban;

Ghé qua thăm tỉnh Quảng Nam một hồi.

Các tầu lẻ tẻ dăm đôi,

Đi quanh một dạo vừa thôi hết đường.

Sáng ngày mờ tỏ thái dương,

Mũi tầu đã giở theo đường Quy Nhơn.

Ngang đường ngắm cảnh núi non,

Vài ngày lại ghé bến đồn Nha Trang.

Nhà tranh lẹt đẹt dăm hàng,

Ngắm xem rừng núi lại càng buồn thay!

Rút neo đi suốt một ngày,

Saint Jacques Giác đã thấy ngay kề kề.

Nhìn quanh nhìn quất bốn bề,

Pháo đài chia chỉa, quả đê đỡ người.

Cỏ cây nhan nhản tốt tươi,

Quả hoa xanh đỏ như cười với xuân.

Tính vừa chưa hết một tuần,

Sài Gòn đâu đã như gần tới nơi.

Lừ lừ tầu chạy sông Nhoi,

Bỗng đâu đã thấy đò bơi trước cầu.

Lình thình neo kéo hồi lâu,

Ngảnh đi ngảnh lại đã mau lên bờ.

Một hồi quanh quất bơ vơ,

Thăm dò một lát, ngẩn ngơ tìm đường.

Địa đồ mua lấy một trương,

Tỉnh thành lầu các phố đường phân minh.

Xe hòm ngồi tựa đinh ninh,

Qua cầu sông Mới qua hình d’Adran.

May chiều vừa có bóng giăng

Hết ra chợ chính lại đằng Cát-na,

Gồm nhà giây thép to. Cha!

Giống thay vườn cảnh ngã ba đầu đường.

Nor’dom phố mấy rộng nhường,

Charner thăm thẳm hai hàng giồng cây.

Quan’ a mấy lại đẹp thay,

Dãy toà Thống đốc đẹp tầy dinh vua.

Nhà Chung đứng giữa lửng lơ,

Hai chòi ngất nghểu vẩn vơ cổ quyền.

Hoả xa cùng mấy hoả thuyền,

Chíu cho ngang phố, liên miên đầy phòng.

Khen ai ghê gớm phu công

Làm cho bãi vắng bỗng đông nên thành.

Nơi này khi trước nhà gianh,

Bây giờ sau sát lầu dinh cao dài.

Chỗ kia xưa túp thuyền chài,

Bây giờ quan lộ lâu đài giăng giăng.

Hai ngày quanh dạo tung tăng,

Khi chơi phố rộng, khi thăng cao lầu.

Hết phố tây, lại phố tàu,

Ta thì lác đác không đâu có nhiều.

Đó đây vài đám tuỵ tiều,

Hoặc là xe kéo, hoặc chèo tam ban.

Hoặc là thông ký xì xoàng,

Hoặc là bồi bếp chí gian thôi mà.

Ban chiều dạo phố la cà,

Khăn quàng xanh đỏ, áo là cổ cao.

Đĩ ……………. lêu lao,

Khi vào Nhà-xét, khi vào Café.

Sì gà, rượu mạnh tỉ tê…

…………………………………..

… Trừ ra văn học, kém gì?

Trừ ra buôn bán ai bì được em,

Nghĩ tình Nam, Bắc anh em.

Cùng người bản xứ liền đem sự tình

Hỏi từ Tây đến dạy tinh,

Gần đây thế kỷ học hành những chi?

Nam rằng Trương Vĩnh (10) là gì!

Quan binh cai trị, thiếu chi người mình.

Nào thày kiện, nào y sinh,

Người tài giồng giọt, người tinh đo đường

…………………………………………….

… Giã từ hai sự ước ao

Bên buôn bên học bên nào cũng tinh.

Văn nhân mấy bực thông minh,

Liệu bài sao khỏi của mình người thu.

……………………………………..

……………………………………..

Còn bề chè chén ăn chơi

Kém người dăm bực cũng thôi chịu nhường.

Tỉnh ngay dức mộng dũng cường,

Can qua thôi hãi chịu nhường vài thưng.

Ngoại keo thôi cũng nên mừng,

Sức dùng đấu vật giữ lưng cầy bừa.

Đời gần qua buổi gió mưa

Thiết tần lôi thống (?) đồ thừa nay mai.

Đồng bào gắn bó một hai,

Rời chân Chợ Lớn dạo vài giờ chơi.

Trông mà gan quặn ruột sôi,

Đất nhà rành mạch, của người dinh cơ.

Quan mình cai trị sờ sờ

Lợi dân không biết dân nhờ ai trông?

Người Nam khố rách đầu không,

Chú Tàu đâu đến dinh trong dinh ngoài.

Bán nem cho chí thuyền chài,

Cu ly cũng phải dụng tài chú… đuôi.

Miền Nam bán ngược buôn xuôi,

Nước rừng cây núi để nuôi miệng người…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *