Truyện ông Danis Papin

 

Kính thưa các quý vị độc giả!

Nhân việc nghỉ Tết Giáp Ngọ dài ngày, trang web tannamtu xin đăng một bài dịch của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở miền Bắc ra đời năm 1907, tờ Đăng cổ tùng báo.

Đăng cổ tùng báo là tờ báo có nguồn gốc từ tờ Đại Nam Đồng văn nhất báo, ra đời từ năm 1892 tại Nam Kỳ. Tuy nhiên, về bản chất, Đại Nam Đồng văn nhất báo chỉ là Công báo, chuyên dành cho các viên chức của Nhà cầm quyền và được in bằng Pháp văn và Hán văn, chủ nhiệm là người Pháp có tên F.H.Schneider. 

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công trong việc sử dụng uy tín cá nhân, đứng ra xin phép Nhà cầm quyền mở trường Đông Kinh nghĩa thục tại số 10 phố Hàng Đào. Phong trào Đông Kinh nghĩa thục được sự lãnh đạo của nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Cho đến thời điểm này của lịch sử báo chí Việt Nam, phần Bắc kỳ chưa có tờ báo tiếng Việt nào. Trong thư tịch báo chí Việt Nam (1999) và Sơ thảo lịch sử báo chí Hà Nội (2004) đều do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành có nói đến tờ báo tiếng Việt mang tên Đại Việt tân báo ra đời năm 1905 của một người Pháp có tên là Ecnext Babuyt, tuy nhiên, cho đến nay, tuyệt nhiên chưa thấy có sự nhấn mạnh nào về vai trò và ý nghĩa xã hội của tờ báo này, đồng thời cũng không có sự xác định nào về việc: tờ báo ra đời nhằm mục đích gì? Chức năng phục vụ cho đối tượng nào trong xã hội và giá trị có được của tờ báo đối với mục tiêu phát triển dân trí ra sao? Tôi thiển nghĩ, thông thường, điều này chưa thỏa mãn khái niệm về báo chí!

Đăng cổ tùng báo, danh chính là sự đầu tư của một người Pháp là chuyên gia về in ấn và xuất bản, đến Việt Nam theo hợp đồng với Chính phủ thuộc địa, ông là F.H.Schneider, nhưng Chủ bút là một người Việt Nam. Việc này là hệ quả tất yếu vì luật pháp lúc đó không cho phép người Việt mở báo tư nhân ở phần Bắc và Trung Kỳ (Nam kỳ cho phép đến năm 1898). Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, việc người Việt làm chủ bút một tờ báo, mặc nhiên sẽ mang cái tâm thức và ý đồ của chính con người đó. Cần nhấn mạnh, Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người đã cùng Phan Châu Trinh tổ chức, thành lập và thảo điều lệ cho Đông Kinh nghĩa thục. Thực tế này dù nhìn ở góc nào, chúng ta cũng thấy bản chất ý thức và tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh có khuynh hướng tích cực hay không?! Đây chính là chi tiết để giáo sư sử học Chương Thâu, một người chuyên nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục, đã nhận định rằng: Đăng cổ tùng báo chính là cơ quan ngôn luận của Đông Kinh nghĩa thục! Thực tế này còn giúp chúng ta hiểu rằng, cá nhân Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, cũng như điều kiện tài chính để đầu tư cho việc ra đời một tờ báo phục vụ cho lý tưởng khai dân trí, tôn chỉ của một phong trào cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh chính trị của một chế độ Thực dân hà khắc và cai trị bằng cường quyền.

Nguyễn Văn Vĩnh vốn nuôi ý chí sẽ tạo dựng nên một nền báo chí bản địa, nhằm phục vụ lý tưởng khai dân trí, và nền báo chí đó phải trở thành một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống tinh thần trong dân chúng. Vô hình chung, vào một bối cảnh xã hội như tóm tắt ở trên, Nguyễn Văn Vĩnh vào vai chủ bút của Đăng cổ tùng báo, trong một chừng mực nhất định, ông đã lợi dụng được hoàn cảnh, và mặt nào đó trở thành cơ quan tuyên truyền cho những hoạt động của Phong trào Đông kinh nghĩa thục, vì tôn chỉ của Đông kinh nghĩa thục, chính là Khai dân trí. Thực tế này đã góp phần vào việc Nhà cầm quyền sớm nhận thấy mục tiêu chính trị của một phong trào cách mạng và đã quyết ra tay ngăn chặn ảnh hưởng của nó. Chủ trương của Nhà cầm quyền là: hãy để cho dân ngu!

Trong những động thái của Nguyễn Văn Vĩnh khi thực hiện việc biên tập tờ Đăng cổ tùng báo, ông đã ra công tìm kiếm, lượm lặt và sưu tầm rất nhiều những nội dung khác nhau trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt, ông cảnh báo dân chúng về những rào cản của sự lạc hậu về văn hóa. Ông tìm cách khích lệ lối tư duy khoa học, tìm đến những tiến bộ của nhân loại nhằm mở mang những hiểu biết xã hội, làm cơ sở để phát triển trí não người dân.

Để minh chứng cho mục đích có tính chiến lược của Nguyễn Văn Vĩnh,  chúng tôi xin chép lại hoàn toàn nguyên vẹn một trong hàng trăm bài được ông dịch từ Pháp văn và đăng trên Đăng cổ tùng báo, nhằm tiếp tục giới thiệu với các bạn quan tâm, không phải chỉ là dẫn chứng về khía cạnh đời sống báo chí, mà thực chất nó thể hiện khá sinh động ý nguyện của người làm báo trong việc theo đuổi lý tưởng Khai dân trí trong suốt ba mươi năm lao động không ngừng. Đồng thời, một lần nữa, với những người nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Việt, đây cũng là một bằng chứng rất cụ thể về cách tư duy của người dịch khi chuyển ngữ sang Quốc ngữ, thứ chữ được hình thành từ chính tiếng mẹ đẻ của chúng ta mà nó đã phải đi tiếp thêm 17 năm sau đó (1924) mới được chế độ chính trị đương thời chấp nhận thay thế vai trò của chữ Hán, và trở thành văn tự chính thức của một Quốc gia.

BBT chúng tôi có tham vọng sẽ lần lượt giới thiệu những bài đã đăng trên Đăng cổ tùng báo 1907, tờ báo phổ thông tiếng Việt đầu đời trong lịch sử báo chí Việt Nam nói chung và phần phía Bắc Việt Nam nói riêng. Tờ báo thực sự mang tính quảng bá trong giai đoạn thai nghén một xã hội dân sự và là dấu ấn văn hóa tinh thần ở một đất nước thuần nông tiêu biểu.

Chúng ta hãy xem cách lý giải của thạc sỹ chuyên nghành báo chí Nguyễn Văn Yên (Yên Ba) khi nói đến Đăng cổ tùng báo ra sao: “Đăng cổ tùng báo hiểu theo nghĩa nôm na, là Khêu đèn gióng trống”. Và qua đây, mỗi người chúng ta càng thấm thía hơn khi chứng kiến cách khêu đèn và gióng trống của nhà yêu nước Nguyễn Văn Vĩnh được thực hiện như thế nào trước dân chúng?!

BBT tannamtu.

Truyện ông Danis Papin(1)

( Đăng cổ tùng báo, số ra ngày 9.5.1907 tại Hà Nội)

Ở kỳ báo “Đại Nam” trước, trong bài luận về Hỏa-xa, có nói đến tên ông Danis Papin, là người Đại-Pháp, đã nghĩ ra trước hết cách dùng hơi nước sôi làm sức chuyển máy.

Vì thế hóa thường người ta vẫn cho ông ấy là Tiên-sư(2) Hỏa-xa với hỏa thuyền(3).

Ông ấy có tài mà làm nổi danh tiếng cho nước Pháp thế, chúng tôi thiết tưởng nên nói truyện qua để các Quý khách biết ông Denis-Papin là người thế nào.

140130_danispapin

Từ thủa cố ông ấy cho đến bây giờ ước được 250 năm. Bố ông ấy vốn làm Thầy-thuốc, đẻ con ra cũng định cho con nối dòng, không ngờ con không thích nghề chữa bịnh. Chỉ miên-man học Cơ-khí, nghĩa là học những cách- động (mouvement) để chế ra các máy-móc.

Thời bấy giờ ông Papin có soạn ra mấy pho sách máy, các ông Bác-vật(4) lúc đó xem thấy đều cho làm rỏi(5) mà tìm ông ấy để đi lại bạn bè. Ông Papin được đi lại với những người thông thái ấy thì lại càng ham học nữa.

Ở bài “Hỏa-xa” tôi có nói truyện cái nồi của ông Papin, mà vì có cái nồi ấy, mới tìm được ra cách dùng hơi nước làm máy. Như thế thì biết rằng ở đời lắm sự con mắt hèn của ta cho làm thường, thế mà người thông thái nhìn thấy lắm khi tìm ra được việc nhớn. Như nồi nước sôi thì ai là người không thấy luôn, nhưng dễ mấy người đã dám ngờ rằng hỏa-xa hỏa-thuyền cùng các máy đều ở đó mà ra chưa ? Người ta thường sự gì trông thấy luôn thì cứ cho làm nhàm. Như ông Papin thì không hay cho làm nhàm thế, thấy nồi nước sôi, vung bổng lên, thì tìm ra cho được sự bồng là tại bởi đâu. Tìm đi tìm lại mãi mấy biết được rằng hơi nước sôi có lực, mà lực ấy dùng được.

Trí nghĩ ra được, tay muốn làm ngay. Nhưng đã dễ đâu! Từ lúc nghĩ cho đến lúc…làm ra việc, gian-chuân biết là nhường nào ! Ông Denis-Papin khổ nhục mấy làm ra máy hơi nước.

Đời bấy giờ, vua Đại-Pháp là ông Louis XIV. Đương thời chuyên chế, vua muốn cả nước theo một đạo. Ai không theo thì trục-lưu(6) đi, không cho ở trong nước. Ông Denis-Papin là một người không ưng theo đạo vua, phải trốn chánh đi nơi khác. Đương học dở dang phải bỏ.

Sang đến nước Phổ(7), ông ấy lại học. Nghèo, khổ, đói, khát, cũng chịu. Trải bao nhiêu cơ hàn mới đóng được một chiếc thuyền không trèo, không buồm, có hai bánh xe chạy bằng hơi mà thôi.

Thiên-hạ ai nghe thấy đều không tin là thực, người nào cũng gọi ông Papin là “thằng điên”, ai cũng bảo thuyền không buồm không trèo sao được !

Một hôm thuyền thả vào sông Weser(8), bên nước Phổ để thử. Thiên-hạ kéo đến xem đông như kiến. Ai cũng lắc đầu không tin, người chê báng, kẻ dèm pha. Ông Papin cứ dửng-dưng buông cho máy chạy. Bánh xe quay tít, cầy nước ầm-ỳ, tầu chạy vòn vọt. Ông Papin thắng được cả những kẻ dèm lúc ấy, lấy làm xướng bụng.

Nhưng ông ấy khoan-khoái không được mấy chốc. Những quân lái thuyền ở sông Weser, thấy máy ông Papin, đều lấy làm sợ hãi, vì nếu máy ấy làm ra, thì chúng nó mất nghề. Cả một miền sông chỗ ấy, đứa nào đứa ấy nổi dận đùng đùng, sô đến phá tan thuyền máy ông Papin ra, thằng dìu đứa búa, đánh đập một hồi, nào bánh xe, nào nồi nước, tan tành ra nghìn mảnh.

Ông Papin có đồng tiền nào đã đem cả vào việc làm thuyền, cầm áo nhịn ăn đi mấy làm được, mà tan mất, thì lại khổ sở đói rét hơn trước. Mà lại còn đeo cái tội, có kẻ thù hằn không cho công cán mình là có ích. Như thế thì sống sao được? Ít lâu phải chết mất. Dầu hương sư, xem ai là rách rưới tiều tụy, chết só thì mới cho làm. Như ai nhìn đến. Bây giờ hễ lúc được nhờ mà khỏi cũng sót thương.

Giờ này ai nhớ đến ông Denis-Papin, thi…công việc ông ấy đáng trọng thờ muôn đời, chỗ này lập tượng, chỗ kia lập tượng để lưu muôn đời cái tên ông Denis-Papin, cái mặt anh tài, cái tay chịu khó.

Thế thực là phải nghĩa lắm, vì từ xưa nay các ông Bác-vật tìm ra cũng đã lắm điều hay, nhưng không có điều gì hay bằng hơi nước. Vì hơi nước cuộc đời mỗi ngày biến cải; bởi hơi nước làm người mỗi ngày tiện ích; bởi hơi nước mỗi ngày người ta giao-thiệp với nhau, quyến luyến với nhau, càng giộng mãi ra.

Thực là một việc hay cho thế giới.

Ghi chú:

(1) Denis Papin 1647-1712. Sinh tại Blois, Pháp. Mất tại London.

(2) Ý chỉ là vị tổ sư của động cơ hơi nước.

(3) Hỏa thuyền hay tàu thủy.

(4) Bác học.

(5) Thực chất là giỏi, giỏi giang.

(6) Trục: trục xuất. Lưu: lưu đày.

(7) Nước Đức.

(8) Tên một con sông ở phía Tây Bắc nước Đức, dài 452 km. Sông chảy qua thành phố Bremen và đổ ra Biển Bắc.

Chép và chú thích: BBT tannamtu.com.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *