THƯ MỜI CAFE SÁCH

 

CÀ PHÊ THỨ BẢY

 

THƯ MỜI


CÀ PHÊ SÁCH

Các anh chị và các bạn thân
mến.


Vào 09 sáng chủ nhật ngày
2411/2013,

SALON VĂN HÓA CÀ PHÊ THỨ
BẢY,

tại lầu 1, Trung Nguyên Coffee 19B Phạm Ngọc Thạch ,
Q.3

sẽ diễn ra buổi CÀ PHÊ SÁCH,


“Cà phê” với ông Nguyễn Lân
Bình
NNGUYỄN
LÂN BÌNH,

chủ biên bộ sách 14 tập “Lời người Man di hiện
đại”
 (NXB
Tri Thức)


 


Chủ đề:cụ NGUYỄN
VĂN VĨNH


và bộ sách 14 tập “Người Man di hiện
đại”
.


 


Chủ trì: GSTS CHU HẢO


Rất mong anh chị và các bạn đến tham
dự.


Hân hạnh được đón
tiếp.


 


GĐCPTB


Dương Thụ


       ___________________________________________


 


NÔI DUNG BUỔI CÀ PHÊ


 


9h-9h30: Cà phê làm
quen.


9h30-10h30: ông Nguyễn Lân Bình, chủ biên bộ sách, chủ
trang mạng tannamtu.com chuyên đề về Nguyễn Văn
Vĩnh và gia đình, trình bày về nguồn gốc các tư liệu được sử dụng
trong bộ sách 14 tập “Lời Người Man di hiện đại” và lý do vì sao chỉ sử dụng
những bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh đã đăng trên tờ báo “L’Annam Nuoveau”  (1931-1936) làm nội dung của bộ sách. Cùng với tinh thần này cũng được bàn đến
với cuốn sách “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?”.đồng thời tóm tắt những dấu ấn quan trọng
trong cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn
Vĩnh.


10h30- 11h30: đối thoại, mạn đàm giữa các khách mời và
ông Nguyễn Lân Bình về cụ Nguyễn Văn Vĩnh .


11h30 kết thúc.


 


Tại buổi tọa đàm, BTC có chuẩn bị một số bài viết trên
các báo lớn nêu ý kiến phản hồi của dư luận xã hội về bộ sách, đồng thời có bán
một số lượng giới hạn những cuốn sách mới này.


 


VÀI NÉT VỀ ÔNG NGUYỄN LÂN
BÌNH


Nguyễn Lân Bình, sinh năm 1951, cháu gọi học giả Nguyễn
Văn Vĩnh là ông
nội       


16 tuổi sang Bungari học nghề.


20 tuổi về nước nhập ngũ, biên chế bộ đội Trường Sơn
(559). Mặt trận ở lâu nhất là Quảng Trị và Quảng Bình).


1977 ra Bắc, theo học Đại học Ngoại ngữ khoa Nga văn
(hệ chuyên tu tại chức).


28 tuổi chuyển ngành.


29 tuổi là cán bộ phiên dịch cho người lao động
Việt Nam tại Bungari.


34 tuổi là cán bộ phiên dịch tại Đại sứ quán Bungari ở
Hà Nội.


41 tuổi cho đến khi nghỉ hưu là chuyên viên chính, Cục
Phục vụ Ngoại giao đoàn-Bộ Ngoại giao.


Không giữ chức vụ gì và không phải đảng
viên. 


Năm 2002 bắt đầu công việc tìm hiểu sự nghiệp của ông
nội.


Năm 2006 bắt tay làm bộ phim tài liệu lịch sử về học
giả Nguyễn Văn Vĩnh có tựa đề: “Mạn đàm về Người Man di hiện
đại”.


Năm 2007 hoàn thành bộ phim. Độ dài 4 tập-215
phút.


Năm 2008 trình bày bộ phim tại Các Viện Đại học
Montpeller nhân ngày Quốc tế Pháp ngữ Francophonie 20.3 tại thành phố
Montpellier.


Năm 2011, chính thức gửi văn bản kiến nghị đến Chủ tịch
nước và các cơ quan liên quan của CP.Việt Nam đề nghị lấy một ngày
trong năm là ngày kỷ niệm CHỮ QUỐC NGỮ-CHỮ VIẾT QUỐC GIA. Đồng thời cũng bộ hồ
sơ đó được gửi đến Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và các cơ quan liên quan của
CP. Nước CH.Pháp đề nghị xem xét lại cái chết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh ngày
2.5.1936. Và cũng bộ hồ sơ đó đã được gửi tới Tổng Giám đốc UNESCO bà Irina
Bokova và Chủ tịch Hiệp Hội các quốc gia nói tiếng Pháp, ngài Abdou Diouf cùng
các cơ quan liên quan để xem xét và vinh danh vai trò lịch sử của nhà báo Nguyễn
Văn Vĩnh là người châu Á đầu tiên tham gia vào hoạt động xây dựng phong trào
Francophonie, trước khi tổ chức này ra đời chính thức.


 


TÓM TẮT TIỂU SỬ HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN
VĨNH


Ông Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15/6/1882 tại số nhà
46, phố Hàng Giấy, Hà Nội. Thân phụ là Nguyễn Văn Trực, thân mẫu không
rõ tên (do tập quán xưa kia, khi người phụ nữ lấy chồng sẽ mang tên chồng). Khi
còn nhỏ, gia đình cho đi chăn bò thuê ngoài bãi Long Biên (nay là chân cầu Long
Biên).


HỌC VẤN VÀ NGHIỆP CÔNG
CHỨC:


– Năm lên 8 tuổi: xin được làm công việc kéo
quạt mát (lúc đó chưa có điện) cho lớp học của người Pháp dạy các học viên đã đỗ
tú tài, cử nhân học để làm thông ngôn (phiên dịch).


– 10 tuổi: được nhà trường cho phép thi cùng
các học viên của chính lớp học mình ngồi kéo quạt. Khi lớp học mãn khóa, Nguyễn
Văn Vĩnh đã đỗ thứ 12 trong số 40 học viên. Vì quá nhỏ, nhà trường cho phép
Nguyễn Văn Vĩnh được học lại từ đầu (khóa học 4 năm). Kết thúc khóa học,
Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu (thủ khoa).


– 15 tuổi: Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm
thông ngôn tại tòa sứ Lao Cai (1897)


– 17 tuổi: được điều chuyển về tòa sứ Hải
Phòng, tại đây Nguyễn Văn Vĩnh đã “tự tốt nghiệp phổ thông” bằng việc mua và tự
học bộ sách giáo khoa tiếng Pháp (Encyclopédie autodidactique quilet – Sách tự
học chương trình phổ thông).


– 18 tuổi, vì cụ bà Nguyễn Văn Trực đã qua đời, cụ ông
Nguyễn Văn Trực có phần phiền muộn và ông Nguyễn Văn Vĩnh quyết định lập gia
đình với bà Đinh Thị Tính (sinh năm 1881, ở số nhà 12 ngõ Phất Lộc, Hà
Nội).


– 20 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về tòa
sứ tỉnh Bắc Giang (bao gồm cả Bắc Ninh)


– 24 tuổi được điều chuyển về Tòa Đốc lý Hà
Nội
. Cùng năm (1906),
ông được cử đi hội chợ thuộc địa tại thành phố cảng Mác xây (Marseille) Pháp.
Kết thúc hội chợ Nguyễn Văn Vĩnh xin ở lại thêm 3 tháng. Trở lại Việt Nam,
Nguyễn Văn Vĩnh xin thôi làm công chức của Tòa Đốc lý Hà Nội. Tính từ thời điểm
này cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh không nhận và không giữ bất kỳ vị trí
nào trong hệ thống cai trị của chính quyền.


 SỰ
NGHIỆP VĂN HÓA – CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI:


1906: gia đình Nguyễn Văn Vĩnh chuyển về Hà Nội ở
số nhà 39 Mã Mây, nơi đây trở thành điểm tập trung của các thân sỹ như Phạm Duy
Tốn, Phan Kế Bính, Phạm Huy Lục, Nguyễn Đỗ Mục…


1907: Nguyễn Văn Vĩnh chính thức đứng đơn gửi nhà
cầm quyền xin thành lập trường Đông Kinh
Nghĩa Thục
 ở số 10 phố Hàng Đào và do cụ Lương Văn Can
làm thục trưởng. Trong Đông kinh Nghĩa thục, Nguyễn Văn Vĩnh là người dạy
môn chữ Quốc ngữ và Pháp văn.


Cùng thời kỳ này, Nguyễn Văn Vĩnh, với sự hợp tác
của một người Pháp là Francois Henry Schneider, chính thức là chủ bút của tờ báo
tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ – “Đăng cổ tùng báo”. Con
đường làm báo chính thức của Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu từ đây. Ông là
chủ bút của 07 tờ báo cho đến khi từ giã cõi đời. Trong đó, tờ báo cuối
cùng trong sự nghiệp báo chí của ông – “L’Annam
nouveau
” (Nước Nam mới) – là tờ báo quy mô nhất, thành công
nhất và có hệ lụy nặng nề nhất.


Phục vụ cho sự nghiệp làm báo của mình, Nguyễn Văn Vĩnh
đã thực hiện việc dịch các tác phẩm văn hóa từ chữ Nôm ra Quốc ngữ, từ Hán văn
ra Quốc ngữ, từ Pháp văn ra Quốc ngữ, từ Hán văn ra Pháp văn và từ Quốc ngữ ra
Pháp văn từ khi còn rất trẻ. Tổng số trang dịch của Nguyễn Văn Vĩnh từ Pháp văn
ra Quốc ngữ là lớn nhất, của nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng nhất và cũng là
những tác phẩm lần đầu tiên có mặt ở Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ vào những
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20. Tổng số đầu sách Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch khoảng
30 tác phẩm của khoảng 20 nhà bác học, nhà khoa học, nhà văn, nhà nghiên cứu,
nhà phê bình nổi tiếng của Châu Âu và thế giới. Ba tác phẩm gần gũi với bạn đọc
nhất là: Tập truyện thơ ngụ ngôn của La phông Ten (La Fontaine), Tiểu thuyết
“Những người Khốn khổ” của Victo Huygo (Victor Hugo) và “Ba chàng ngự lâm pháo
thủ” của Alếcxăng Duma (Alexander Dumas).


Tồn tại với vai trò là một nhà báo tự do, song thực
chất Nguyễn Văn Vĩnh là người hoạt động trong nhiều lĩnh vực:văn hóa, xã
hội và chính trị. Làm văn hóa trong một bối cảnh đất nước cực kỳ lạc hậu do xã
hội Phong kiến để lại với sự thống trị của chế độ Thực dân kiểu cũ nhưng Nguyễn
Văn Vĩnh lại tự nhận mình là “Người Nam mới” (Tân Nam tử), luôn đòi
cải cách, duy tân… Điều đó khiến ông mặc nhiên đã đặt mình vào vị trí
kẻ đối lập.


1922, Nguyễn Văn Vĩnh chính thức chia tay với Francois
Henry Schneider( hết hạn về Pháp), từ thời điểm này, ông thực sự độc lập cả về
nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.


1926, Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức thành lập Trung tâm sách
Âu Tây tư tưởng (Trụ sở đặt ở số nhà 1-3 phố Hàng Gai, nhìn ra Hồ Gươm, Hà
Nội).


Tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, thông qua nội dung
các bài viết trên 07 tờ báo mà ông làm chủ bút, là lên án hệ thống cai
trị, khích lệ dân chúng đến với quan điểm dân chủ đã đi ngược với chính sách cai
trị của Chính phủ thuộc địa. Từ bối cảnh này, nhà cầm quyền đã nhiều lần thương
lượng với ông để ông hợp tác hoàn toàn với Chính phủ, chấm dứt việc lên án các
chính sách của nhà cầm quyền thông qua ngòi bút của mình. Tuy nhiên,
các cuộc mặc cả giữa Nhà cầm quyền với Nguyễn Văn Vĩnh đều thất
bại!


1931, mâu thuẫn giữa đôi bên lên đến cao độ, Nguyễn Văn
Vĩnh và những người cùng lập trường, quyết định thành lập tờ báo xuất bản bằng
tiếng Pháp “L’Annam nouveau” (thời đó,
 viết
tiếng Pháp không bị chính quyền kiểm duyệt) với mục
đích
: làm
diễn đàn đối chọi lại với chủ trương Quân chủ Lập hiến của  một bộ phận các
chính trị gia trong Chính phủ thuộc địa; ông xây dựng và chứng minh tính
hợp lý của học thuyết Trực trị do ông đề xướng, xây dựng nền cộng hòa, xóa bỏ
vai trò trung gian trong hệ thống hành chính của Triều đình Huế, lập nên một
nước Việt Nam có hiến pháp, có chính phủ…


1935, giọt nước tràn ly, Chính phủ Bảo hộ hết kiên
nhẫn, quyết định dập tắt ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh bằng giải pháp: xiết nợ…để
phải phá sản! Ba điều kiện của nhà cầm quyền dành cho Nguyễn Văn Vĩnh trong lần
mặc cả cuối cùng nếu không muốn bị phá sản là:


        1/ Nhận làm
Thượng thư cho Triều Đình Huế (Bộ trưởng).


        2/ Đi tù (dù
chỉ 1 ngày).


        3/ Đi đào
vàng bên nước Lào (Sê Pôn-Tchépone).


Tháng 3 năm 1936 Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn giải pháp thứ
Ba,.


Ngày 1/5/1936, sau một đêm mưa gió, ngưòi ta tìm thấy
Nguyễn Văn Vĩnh, một thân một mình trên một con thuyền độc mộc giữa dòng sông Sê
Băng Hiêng (tên gọi một đoạn của sông Sê Pôn), toàn thân đã tím đen nhưng
một tay vẫn giữ chặt cái bút và tay kia là quyển sổ đang viết dở. Thuyền cập vào
chân cầu Sê Pôn, họ đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh lên trạm y tế của thị xã Sê
Pôn… Nhưng vô vọng! Nhà chức trách báo về gia đình rằng: Nguyễn Văn Vĩnh
chết vì sốt rét…


Cùng thời gian này, nhà cầm quyền đã hoàn tất chóng
vánh việc phát mại toàn bộ tài sản của ông bao gồm: nhà in báo, tòa soạn báo,
nhà cửa, vườn tược với giá chỉ bằng 2/10 giá trị thật, chấm dứt sự nghiệp cầm
bút của ông, đẩy toàn bộ gia đình Nguyễn Văn Vĩnh vào cảnh khuynh gia bại sản,
ly tán muôn đời!


Một tổ chức tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh là hội viên, có
nguồn gốc từ nước Anh  tên gọi là “Hội Tam điểm – Franc
Maconnerie” (biểu tượng là chiếc êke) đã đứng ra lo toan, từ việc chuyển
thi hài ông bằng tầu hỏa về đến Hà Nội, đến việc tổ chức lễ tang, cả việc túc
trực bên linh cữu ông trong suốt 2 đêm và 1 ngày, tại trụ sở Hội Tam điểm ở số
nhà 107 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Hàng vạn người đã đến tiễn đưa Nguyễn Văn
Vĩnh về nơi an nghỉ cuối cùng. Ngưòi ta thấy đã có mặt hầu hết câc nhân sỹ nổi
tiếng, những người lao động, những người dân thủ đô và các vị là đại diện của
các chính giới trong xã hội đương thời đều đến nghiêng mình trước một người được
gọi là “Người công dân vĩ đại”. Trong sáu bài điếu văn được đọc trước khi hạ
huyệt, người ta thấy không biết bao nhiêu lời thương tiếc, không biết bao nhiêu
lời ngợi ca. Nhưng không thể không nhắc đến đoạn điếu văn sau đây của
ông Delmas, Chủ tịch Hội quyền con người, chi nhánh Hà Nội (Discours de
M.Delmas, President de la Ligue dé Droits de L’Homme et du Citoyen Section de
Hanoi) để thấm thía cái xót xa khi mất một con người như Nguyễn Văn Vĩnh
: “…
Ông là người đã tìm thấy những kho báu quý hiếm nhất, còn hơn cả những đống hạt
vàng ghê tởm. Ông đã để lại phía sau một hàng ngũ hậu thế đông đảo, những người
học trò, những người bạn chân thành ngập trong sự đau thương.  Cả một dân
tộc biết ơn những công lao do ông để lại, một công lao không có sự lầm lỗi và
một quá khứ không có vết nhơ.”


Theo BBT.tannamtu.com     

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *