Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp: Sau 47 năm “lưu lạc” mới được về bên mẹ

Antg – Một ngày cuối tháng 12, anh Nguyễn Lân Bình, cháu ruột nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp gọi điện cho tôi mừng rỡ thông báo: “Ơn Trời, sau mấy chục năm, chúng tôi đã tìm lại được mộ của ông Pháp. Vậy là ước vọng của cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh từ cách đây 47 năm, trước khi nhắm mắt xuôi tay là “được nằm cạnh thằng Pháp” giờ mới thành hiện thực…”.

I – Quen anh Lân Bình đã gần chục năm, tôi biết anh là người luôn nặng lòng với lịch sử gia đình, bởi anh sinh ra trong một dòng họ có quá nhiều người tài hoa và nổi tiếng. Vì thế mà cách đây 5 năm, Nguyễn Lân Bình đã tự bỏ ra khoản tiền không nhỏ làm một bộ phim tài liệu về ông nội Nguyễn Văn Vĩnh và những người bác tài hoa của mình mang tựa đề “Mạn đàm về người man di hiện đại” với mục đích để giáo dục con cháu biết về lịch sử gia tộc.

Cha anh Bình là ông Nguyễn Dực, người có công rất lớn trong những ngày đầu thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, là con giáp út của học giả nổi tiếng Nguyễn Văn Vĩnh.

Dù không sáng tạo ra chữ quốc ngữ, nhưng vào những năm đầu thế kỷ XX, với tư cách là một nhà báo có trong tay những ấn phẩm bằng cả tiếng Việt (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn) và tiếng Pháp (Notre Journal, L’Annam nouveau – An Nam mới), Nguyễn Văn Vĩnh đã nỗ lực tuyên truyền để chữ quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong xã hội với câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta mai sau này, hay hay dở cũng ở chữ quốc ngữ”.

Không những thế, với mong muốn vừa phổ biến chữ quốc ngữ, đồng thời mở ra một cửa sổ giúp cho nhiều người tiếp cận văn học, văn hoá thế giới, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch sang chữ quốc ngữ nhiều tác phẩm văn học, triết học, như “Kim Vân Kiều” (dịch từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, rồi dịch từ chữ quốc ngữ sang Pháp văn); “Triết học yếu lược”; “Thơ ngụ ngôn” của La Fontaine; “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” (24 cuốn) của Alexandre Dumas; “Những người khốn khổ” của Victor Hugo; “Miếng da lừa” của O.Balzac…

Giữa năm 1935, với lý do Nguyễn Văn Vĩnh bị vỡ nợ, chính quyền thực dân đã tịch thu toàn bộ tài sản của ông đem bán đấu giá. Tuy vậy, số tiền bán đấu giá vẫn chưa đủ. Lúc đó, người Pháp đưa ra 3 lựa chọn cho Nguyễn Văn Vĩnh: nếu vào Huế làm Thượng thư, sẽ được trả lại toàn bộ tài sản như cũ; hoặc phải ngồi tù ở Hoả Lò, dù chỉ một ngày; hoặc biệt xứ sang Lào dưới danh nghĩa đi tìm vàng để trả nợ. Và ông đã lựa chọn đi Lào.

Ngày 1/5/1936, Nguyễn Văn Vĩnh đột ngột qua đời trong một chiếc thuyền độc mộc bên bờ sông SêPôn khi đang thực hiện dở loạt phóng sự dài kỳ “Một tháng với những người đi tìm vàng” đăng trên báo L’Annam Nouveau.

Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, gia đình đưa ông về quê chôn cất ở nghĩa trang bãi Sấu (làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông).

Nguyễn Văn Vĩnh có tới 15 người con, trong số ấy, có những người rất đỗi tài hoa như Nguyễn Phùng, một luật sư hiện đã được thành phố Mongpelier (Pháp) chọn đặt tên đường; nhà thơ Nguyễn Giang, người được ghi tên trong từ điển văn học Việt Nam, và đặc biệt nhất là Nguyễn Nhược Pháp.

Cho tới bây giờ, đã gần 80 năm kể từ ngày bài thơ “Chùa Hương” ra đời, nhưng đây vẫn là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của thơ ca Việt Nam. Có lẽ không một người yêu thơ nào không biết tới những câu thơ: “Hôm nay đi chùa Hương/ Hoa cỏ mờ hơi sương/ Cùng thầy me em dậy/ Em vấn đầu soi gương/ Khăn nhỏ, đuôi gà cao/ Lưng đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh, áo the mới/ Tay cầm nón quai thao…”.

120505_nhuocphap.5.5.12_thumb.jpg

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nhưng, cuộc đời của Nguyễn Nhược Pháp thật ngắn ngủi. Năm 1938, mới 24 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp qua đời vì bệnh lao phổi, một căn bệnh mà thời ấy đã mắc chỉ có chết do khi đó chưa có thuốc kháng sinh Penicilin.

Nguyễn Nhược Pháp mất, gia đình cũng đưa về an táng trong nghĩa trang bãi Sấu ở quê nhà, nhưng do ngày đó, đây là vùng chiêm trũng nên không thể đặt cùng một chỗ với cụ Vĩnh.

II – Cuối năm 2010, anh Bình mời một số bạn bè thân thiết về quê, bây giờ là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Khi ra thắp hương cho cụ Vĩnh, thấy mọi người tò mò vì trong khu mộ của gia tộc, bên cạnh mộ cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh có một ô vẫn để trống dù trên đó có gắn ảnh nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, anh Bình giải thích rằng năm 1965, trước khi qua đời, cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh nhắn nhủ với con cháu rằng “sau này nằm xuống, tao chỉ muốn được nằm cạnh thằng Pháp”.

Anh Bình kể rằng từ năm 1989, Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ) đã đặt bia tại khu mộ phần gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh với dòng chữ “Khu mộ danh nhân văn hoá Nguyễn Văn Vĩnh – Nguyễn Giang – Nguyễn Nhược Pháp” nhưng không có mộ Nguyễn Nhược Pháp, bởi dù cuối những năm 80, khu mộ phần của dòng họ Nguyễn Văn Vĩnh đã được dòng họ quy tập và đầu tư tôn tạo lại nhưng riêng mộ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp thì không tìm thấy.

120505_lanbinh.5.5.12.1_thumb.jpg

Ông Nguyễn Lân Bình

Sở dĩ việc tìm kiếm không có kết quả, bởi theo những người già trong họ kể lại thì sau khi “sang cát”, mộ Nguyễn Nhược Pháp được đặt cạnh mộ người chú ruột của ông Nguyễn Văn Vĩnh mất lúc mới lên 10 tuổi và thường gọi là “cụ trẻ Nguyễn Văn Quang”. Cạnh hai ngôi mộ này còn có 3 ngôi mộ của những gia đình khác thành một dãy và bên cạnh dãy mộ này có một cái mương nước. Nhưng từ những năm 80 của thế kỷ trước, 3 ngôi mộ đã được các gia đình cất bốc đi nơi khác, cái mương nước cũng đã bị lấp.

Cùng với thời gian, nghĩa trang làng ngày càng chật chội; các gia đình cũng đều đã xây cất kiên cố, vì thế cả khu nghĩa trang giờ đã cao hơn ngày xưa rất nhiều nên không thể tìm được vị trí cụ thể hai ngôi mộ. Cũng vì không xác định được vị trí chính xác nên không dám đào bởi bốn phía xung quanh đều là những ngôi mộ của các gia đình khác đã được xây cất kiên cố.

Đầu tháng 11/2011, sau nhiều lần tự tìm kiếm không thành, anh Bình quyết định nhờ chính quyền địa phương. Khi nghe anh trình bày việc này, tất cả cán bộ lãnh đạo Đảng uỷ, UBND xã Phượng Dực đều nhiệt tình ủng hộ.

Và họ đã tìm giúp anh một người từ nhiều năm nay đã đi tìm mộ bằng máy dò. Sau hai ngày dò tìm ở khu vực xác định có mộ, ngày 17/12, người tìm mộ xác định được nơi có hài cốt. Đó là một ô đất trống chỉ rộng khoảng 1m2 kẹt giữa ba ngôi mộ đã xây kiên cố.

Dù máy đã báo nhưng nhiều người vẫn băn khoăn bởi xung quanh đều là mộ nên việc máy báo có cốt cũng là chuyện… đương nhiên. Để chắc ăn, họ cho người đào sâu xuống mấy chục xăngtimét rồi điện thoại cho anh Bình. Về đến nơi, anh Bình kể rằng “linh cảm của tôi lúc ấy mách bảo đây chính là mộ ông Pháp”. Nhưng để tránh sai sót, sau khi làm lễ, anh cầm một nắm đất sang Đông Anh nhờ một ông thầy địa lý “xem” hộ.

Cầm nắm đất anh Bình mang tới, sau một hồi ngắm nghía, ông thầy khẳng định ở đây có hai bộ hài cốt, thậm chí còn mô tả vị trí hai cái tiểu sành nằm ở hai vị trí khác nhau và hỏi cái mương nước phía trước bây giờ có còn không. “Nghe vậy, tôi dám chắc đây chính là mộ của ông trẻ Nguyễn Nhược Pháp và mộ của cụ trẻ Nguyễn Văn Quang rồi” – anh Bình kể.

Ngày 20/12/2011, công việc khai quật được tiến hành. Khi đào xuống hơn 1 mét thì tìm thấy một bia đá nhưng đã mất hết chữ; đào tiếp xuống khoảng gần 1 mét nữa thì thấy một chiếc tiểu sành. Cũng ở độ sâu này, khi mở rộng sang bên cạnh thêm nửa mét nữa thì tìm thấy một tiểu sành khác.

“Khi mở tiểu sành ra thì thực tế hai bộ hài cốt hoàn toàn khác nhau, nhất là so sánh xương ống chân, một hài cốt trẻ em và một của người trưởng thành. Đối chiếu với những dữ liệu về hai ngôi mộ thì hoàn toàn trùng khớp bởi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp được chôn cạnh một ông chú họ mất lúc 10 tuổi. Trong 2 ngôi mộ, chỉ mộ của nhà thơ mới có bia”.

Cho tới chiều 22/12, việc đưa hài cốt Nguyễn Nhược Pháp về an táng trong khu phần mộ của gia đình đã hoàn thành.

III – Căn phòng khách ở tầng 1 ngôi nhà nằm trong ngõ Lương Sử C giờ đây được anh Lân Bình bố trí như một bảo tàng nhỏ của gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh, trong đó có bộ tràng kỷ được ông Nguyễn Văn Vĩnh đặt thợ đóng từ đầu thế kỷ XX và chạm trổ rất cầu kỳ những câu thơ của La Fontaine được ông dịch ra chữ quốc ngữ.

Anh Bình nói rằng từ nhiều năm nay, từ khi gia tộc trao cho anh trọng trách sưu tầm, lưu giữ những di vật của ông nội và các bác, cho tới bây giờ, anh và tất cả hậu duệ của cụ Vĩnh mới mãn nguyện, bởi ước vọng của cụ bà Vĩnh sau gần nửa thế kỷ mới thực hiện được. Dù còn rất nhiều việc phải làm, nhưng có một việc mà anh Bình đã tính tới, đó là xuất bản toàn tập tác phẩm của Nguyễn Nhược Pháp gồm thơ, truyện ngắn, kịch và 10 bài phê bình văn học…

Nguyễn Thiêm

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/ktvhkh/2011/12/77078.cand

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *