Sự thông minh và sự "chậm lớn" của người Việt

 

Sau
những giờ phút xúc động đến “nghẹn con tim”, khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được
vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong
nước vinh danh thành “hiện tượng Ngô Bảo Châu”, cũng như trước đây là “hiện
tượng” Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về
Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), thì tâm lý người Việt trong chúng ta bỗng
chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước mình. Nghĩ về những tài năng Việt xa
xứ. Đã đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, thì
dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.

Nhưng
sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao
người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành
đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng
vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá…mà đất nước vẫn luẩn quẩn với
cái nghèo, chậm phát triển, nay lại còn tụt hậu so với khu vực?

Một
chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: “Ta cứ
hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đã lùi xa sau 35 năm, tại sao đến
giờ, thu nhập bình quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các
quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh
thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình
quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm”.

Chiến
tranh liệu có thể mãi là “bình phong” để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều gì là
vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không “phát” lên được, không
biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành vòng nguyệt quế
kiêu hãnh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta,
đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?

 

“Người
nọ ngoi lên, người kia kéo xuống”- ngụ ngôn hay cuộc
đời?

Khi
đặt câu hỏi này, người viết bài tự nhiên nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn hiện đại:
Có chiếc tàu đắm ngoài khơi xa, tàu cứu hộ được điều đến để cứu hành khách đang
ngoi ngóp dưới biển. Người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore…lần lượt
được cứu thoát, bởi người nọ làm bệ đỡ cho người kia ngoi lên. Nhưng hành khách
là người Việt Nam, cứ người nọ ngoi lên, thì lập tức bị đồng loại- người kia kéo
xuống. Vì thế mà cuối cùng hành khách là người Việt Nam chết hết.

 

130717_-minh-cham-lon-4

 

Ngụ ngôn đắm tàu hay sự thật về cuộc
đời?
 Ảnh
minh họa

Câu
chuyện 
triết lý bi thảm về tính cách một dân tộc
thật chua xót. Nhưng chắc chắn, nó “ngụ ngôn” trên cơ sở có thật. Hay nó bước ra
cuộc đời, từ “ngụ ngôn” để trở thành tính cách người
Việt?

Không
biết có phải vì quá thấm thía về câu chuyện ngụ ngôn, quá hiểu tính cách người
Việt không, mà khi được đặt câu hỏi đề cập việc có chính sách quy hoạch bồi
dưỡng cho những chuyên gia giỏi tuổi còn trẻ, một vị sếp cỡ Bộ trưởng lắc đầu
quầy quậy: “Không được đâu chị ơi. Cứ “dàn hàng ngang cùng tiến” thì không sao.
Chứ đụng vào chuyện quy hoạch, bồi dưỡng người nọ người kia là chết
ngay!”

Chẳng
biết ông có chịu để “chết” không, nhưng rõ ràng, cơ quan ông “chết” vì những
người giỏi cũng chẳng thể bật được lên do chính sách cào bằng,  “dàn hàng
ngang mà tiến”. Hòa cả làng! Và cho nó…lành!

Chắc
chắn câu chuyện và tâm lý của vị Bộ trưởng trên không phải là cá biệt. Mà đó
cũng mới là chuyện xây dựng đội ngũ chuyên gia, không phải quy hoạch đội ngũ
quản lý.

Còn
chuyện mới đây: Tại Hội nghị về chiến lược quản lý nhân sự do báo VNN và VN500
tổ chức, người ta nêu ra một vấn đề đáng chú ý. Nhiều công ty có tầm cỡ đang
hoạt động trong nước ta cho biết, họ thường có vấn đề với nhân sự trung và cao
cấp mà họ rất cần. Tại sao lại như vậy? Theo ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT
Công ty ABBO, trong tất cả các cái “thiếu” có lẽ cái thiếu “tinh thần đồng đội”
là quan trọng hơn cả.

Nhiều
nhà quan sát lịch sử Việt Nam cho rằng đây là một nghịch lý đáng ngạc nhiên. Dân
tộc Việt Nam khi cần đã chứng minh được một khả năng đoàn kết cao độ trong các
cuộc kháng chiến giành độc lập cực kỳ khó khăn, gian khổ.

Vậy
mà từ người Pháp trước đây, rồi người Mỹ và nhiều người ngoại quốc khác sau này
khi có cơ hội làm việc, tiếp xúc với người Việt lại có nhận xét, “một cá nhân
người Việt thì có thể hơn một người khác nhưng ba người Việt ngồi lại thì… lại
có vấn đề!”.

Cũng
theo ông Trần Sĩ Chương, các nhà xã hội học dựa vào thuyết
Con người là sản phẩm của môi trường sống“, hiện tượng này
là do sự bất ổn định của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Khi sống trong một xã hội có
truyền thống bất ổn định thì con người với bản chất sinh tồn bẩm sinh sẽ có
khuynh hướng muốn hành động tự phát, thiếu lòng tin vào tập thể, vào tương
lai.

Từ
đó, người ta không muốn đầu tư vào những cam kết, đầu tư và gắn bó xã hội có
tính lâu dài thậm chí có khi còn “đạp lên nhau để sống”.

Tuy
nhiên, ông Trần Sĩ Chương chưa nêu được cái gốc của tố chất này. Nền văn minh
của nước Việt là văn minh lúa nước. Dân tộc Việt có tới 80% dân số làm nghề
nông. Một nét đặc thù của tư duy nông nghiệp là tư duy tư hữu; là “con gà tức
nhau tiếng gáy”, “sân gạch nhà ông không thể cao hơn sân gạch nhà
tôi”…

Chính
tố chất “tư hữu đậm đặc” này tuy lặn sâu trong tiềm thức con người Việt, khó
“điểm mặt chỉ tên”, nhưng nó lại luôn kề vai sát cánh với mỗi người Việt cho dù
họ đã là trí thức, từ cơ quan nghiên cứu đến công sở…và nó là “người tình”
trăm năm thủ thỉ, gắn bó với ta khi ta cộng tác, làm việc với đồng nghiệp, bằng
hữu. Bỗng nhớ tới một câu “ngụ ngôn” khác sâu cay không kém: “Trong cái sự mất
đoàn kết, thì trí thức là hay mất đoàn kết nhất, rồi mới đến…đàn
bà”(!).

 

“Gieo
tư duy gặt số phận”?

Tính
cách người Việt ấy, lại được đặt trong một cơ chế và tư duy quản lý ra
sao?

Khi
bàn về sự lận đận, yếu kém và sự tụt hậu của xã hội chúng ta trong những năm
tháng thách thức nghiệt ngã này, có nhà thơ đã nói: Hình như con người có số
phận, thì dân tộc cũng có số phận?

Bỗng
nhớ tới câu chiêm nghiệm về luật nhân- quả của đạo Phật, răn dạy con người ở
kiếp nhân sinh: “Gieo tính cách, gặt số phận”. Nhưng luật Đời cũng luôn cảnh báo
cho bất cứ dân tộc nào- gieo tư duy gặt số phận?


duy của dân tộc Việt chúng ta đã từng đổi mới để thích ứng với đòi hỏi của thời
hiện đại, từ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng công bằng mà
nói, tư duy đó thực chất vẫn không thoát khỏi dấu ấn tiểu nông, gia trưởng.
Trong tố chất “tính cộng đồng” còn tồn tại cả tố chất “bầy đàn”, hình thành nên
trên hình thái lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công, không vượt khỏi tầm
chắn của lũy tre làng.

 

 

 

Đừng để sự “chậm lớn” của người Việt cũng thành một
“hiện tượng”, 
nhưng là “hiện tượng” buồn!

 

Chính
tư duy “
bầy đàn” và trọng hư danh của con người
tiểu nông, khi có quyền lực, dễ trở nên e ngại, phòng ngừa với những người có tư
duy độc lập khác với số đông. Thời nào, và dân tộc nào cũng vậy, luôn có những
con người thông minh, trí tuệ, luôn có những con người biết nhìn ra sớm hơn cộng
đồng mình, dám nhận thức bằng sự kiểm chứng thực tiễn. Nhưng tư duy tiểu nông
khi cực đoan, dễ nghi ngờ, hoặc đánh đồng sự “khác biệt” của người tài là sự đối
trọng, thậm chí đối nghịch.


chế quản lý xã hội, một khi được xây nên từ tư duy tiểu nông ấy, tạo nên một hệ
thống chân rết cũng sẽ khó chấp nhận những cá tính sáng tạo, mà chỉ thích sự
‘cào bằng” và sự nghe lời. Khi ấy thì sự thông minh, năng lực sáng tạo, và niềm
tin lý tưởng chân lý là thực tiễn, rất có thể trở thành bi kịch cho chính người
tài, nếu không, chí ít anh ta cũng trở nên hoặc đơn độc, hoặc bị vô hiệu hóa
trong cộng đồng.


duy và cơ chế quản lý “cào bằng” ấy tạo ra sự bất công với những người tài, chỉ
gặt hái được sự a dua cơ hội của sự háo danh, sự vô cảm của số đông và làm thui
chột tài năng sáng tạo thực chất. Đó chính là nguyên nhân sâu xa, tạo ra “hố
sâu” ngăn cách giữa hai bờ tụt hậu và phát triển. Một dân tộc có nhiều người
thông minh như dân tộc Việt, vẫn có thể là dân tộc “chậm lớn” vì thế.

Liệu
dân tộc Việt chúng ta có vượt lên được chính mình không?

Nhìn
ra thế giới, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, mặc dù cá nhân người dân Nhật không
được tiếng học giỏi, lanh lợi như người Ấn, người Hoa hay so với người Việt
chúng ta…nhưng theo ông Chương, điều kiện “công bằng trong xã hội” là một yếu
tố quyết định để mọi cá nhân có lòng tin sự đóng góp của mình được ghi nhận một
cách sòng phẳng, được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Từ
đó, con người mới tin vào ý nghĩa của sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn
hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại và cá nhân họ “được” nhiều
hơn là nếu chỉ nghĩ đến mình. Con người bất cứ ở đâu, nếu sống trong một điều
kiện xã hội còn nhiều bất công thì sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng,
tương kính cũng sẽ không có.

Trong
xã hội Mỹ, cá nhân chủ nghĩa, tinh thần cầu lợi có lẽ cao hơn bất cứ xã hội nào
khác. Nhưng họ may mắn có được một cơ chế xã hội mà đa số người ta tin là công
bằng. Câu phản biện đầu môi, hữu hiệu nhất của một người Mỹ (ngay cả những đứa
trẻ con) đối với người khác khi tranh luận một vấn đề là vịn vào cái lý lẽ
“That’s not fair!” (Thế là không công bằng đâu
nhé!)”(VNR500,12/8/2010)

Như
vậy, tư duy và cơ chế quản lý xã hội hay  hoặc dở, hoàn thiện hay khiếm
khuyết, tất yếu dẫn đến hoặc kết quả hoặc hệ lụy khác nhau căn cứ vào việc sử
dụng người, đặc biệt là những người tài. Mà đối với những người tài, nhất là các
nhà khoa học, trí thức lớn, không chỉ đồng lương, quan trọng hơn là được tự do
học thuật, tự do sáng tạo. Việc sử dụng những người tài, đòi hỏi những nhà quản
lý có tầm, có tâm, biết tôn trọng lao động sáng tạo và…”không sợ
họ”.


chế quản lý xã hội nặng tính cào bằng, thậm chí các thang bậc giá trị trắng đen
lẫn lộn, sớm muộn cũng gây ra những bất công, làm ly tán lòng người. Nhiều người
tài, cũng từ sự bất công đó mà ra đi. Sự suy yếu, tụt hậu của dân tộc là không
tránh khỏi


chế quản lý xã hội công bằng, là động lực kích thích mọi người làm việc, khiến
người tài tin tưởng, dốc lòng cống hiến. Không gọi, dù xa xứ, sớm muộn họ cũng
sẽ quay về. Sự phát triển của dân tộc là tất yếu.

Không
ai có thể quyết định số phận dân tộc Việt bằng chính người Việt. Cây cầu tre- tư
duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ “tụt hậu” hay
“phát triển” cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và
quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.

Khi
đó mới có thể kỳ vọng, sự thông minh song hành với sự lớn nhanh của người Việt,
cũng tức là song hành với sự phát triển mạnh của dân tộc.

Xin đừng để sự “chậm lớn” của người Việt cũng
thành một “hiện tượng”, nhưng là “hiện tượng” buồn!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *