Bí ẩn Vũ Bằng

 

Nhân 100 năm ngày sinh của nhà văn, nhà báo, nhà tình
báo Vũ Bằng, chúng tôi được đọc hai bài viết trên báo CAND và TTVH nói về cuộc
đời của con người đáng kính này, không phải chỉ vì tài năng, vì những đóng góp
cho ngành báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của ông mà cần nhấn mạnh đến sự hy
sinh có tính dâng hiến đích thực cho Tổ quốc!

Bài báo trên CAND ra ngày 4.7.2013 có tựa đề “Bí ẩn Vũ
Bằng”, theo chúng tôi là cách đặt vấn đề chưa thật sát với những gì đã được làm
rõ về con người và sự nghiệp của ông. Thực tế, những gì đã xác minh, đã danh
chính về quãng đời hoạt động của Vũ Bằng để đến một ngày các cơ quan có trách
nhiệm đã truy hoàn những quyền lợi chính trị của ông là một việc làm chính danh,
có tính sám hối của những người có trách nhiệm trong bộ máy lãnh đạo, cho nên
không thể nêu về Vũ Bằng lúc này là một sự “bí ẩn” được.

Nhà báo Vũ Bằng là một người tài, một người có năng lực
làm báo bẩm sinh, nhưng để trở thành một con người thực sự đáng trân trọng trong
nghề báo chí ở Việt Nam, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc và tỏ ra tâm phục những
bậc đàn anh trong ngành báo non trẻ của đất nước này lúc sinh thời. Cái ảnh
hưởng của một môi trường nghề nghiệp, cái giá trị của những người dẫn đường mãi
mãi có ý nghĩa với bất kỳ ai trên con đường sự nghiệp của mình. Góc nhìn này là
cơ sở để tạo nên lòng biết ơn muôn đời của những thế hệ đi sau đối với thế hệ đi
trước!

Trang thông tin tannamtu.com vĩnh viễn mang ơn nhà báo,
nhà văn Vũ Bằng, người đã để lại cho chúng tôi rất rất nhiều thông tin quý giá
về lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn nửa đầu của thế kỷ XX.

Nhân 100 năm ngày sinh Vũ Bằng, để thể hiện tình cảm,
sự kính trọng và lòng biết ơn to lớn đối với nhà văn, nhà báo Vũ Bằng, chúng tôi
xin lần lượt đăng lại hai bài báo nêu trên.

BBT.tannamtu.com

 

 

Bí ẩn Vũ Bằng

 

“Một nhà báo kiệt hiệt” –  Nhà văn Tô Hoài đã dành
cho Vũ Bằng – một người bạn, một người anh, một nhân vật đặc biệt có cuộc đời và
thân phận nhiều bi kịch nhất trong giới báo chí văn nghệ trước năm 1945 những
lời ngợi ca như vậy.

Con
người mà văn chương đạt đến tầm tuyệt bút và đầu óc thông tuệ như vậy, nhưng chỉ
nhận mình là người đãng trí hay quên. Con người mà khi sống phục vụ cách mạng
kháng chiến trong âm thầm như vậy mà đến chết vẫn chưa một lời minh oan cho cái
án “dinh tê”, trốn đi Nam theo Mỹ…

Và đây nữa, chín năm sau khi đất nước yên hàn thống
nhất, vì lẽ gì  mà ông không đặt chân trở lại Hà thành – mảnh đất máu thịt
của đời ông, của văn ông? Tất cả vẫn còn là những bí ẩn. Nhân một trăm năm sinh
của tác giả Bốn mươi năm nói láo, xin được viết đôi nét chân dung cùng những bí
ẩn đời văn, đời người của Vũ Bằng…

130708_10_vubang142

 

Tôi rất thích câu mở đầu của Nhà xuất bản Văn hóa Thông
tin năm 2000 lúc in cuốn sách Vũ Bằng, Bên trời thương nhớ khi viết rằng: Vũ
Bằng là một hiện tượng. Trong suốt dòng sông của cuộc đời có mặt, Vũ Bằng đã
đánh đổi tất cả chỉ để xin lấy về phần mình hơi thở của nghệ thuật. Nghệ thuật
làm báo cũng như viết văn… Và cũng giống như nhiều người Việt yêu nước thuở ấy,
bằng những cách riêng của mình, họ đã hoàn thành sứ mạng lịch sử nào đó, song
cũng không ít tránh khỏi thiệt thòi, éo le. Vũ Bằng là một trường
hợp…

Khác với Vũ Hoàng Chương, người không có cái khắc khoải
nhớ Hà Nội như Vũ Bằng, mà “mỗi lần nhớ về quê hương bản quán, nhà cửa ruộng
vườn, anh em bè bạn là nhớ ngay đến mấy xóm ngoại ô có nhà hát cô đầu…”; Vũ Bằng
từ lâu được xem là nhà văn của hồn cốt phố phường Hà Nội. Nhắc đến Vũ Bằng là
người ta lại nhớ đến một Hà Nội nhiều bâng khuâng với những gì thanh tao, lịch
lãm. Nhắc đến Vũ Bằng người ta bỗng thấy thêm yêu một Hà Nội của mình, là người
ta nhắc tới Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai  (theo tác giả Thu
Hương).

Với nghề báo, Vũ Bằng đã tự vẽ chân dung mình, chân
dung thế hệ, trong cuốn Bốn mươi năm nói láo. Về cuốn hồi ức nghề báo của bạn,
họa sĩ Tạ Tỵ đã viết: “Ông đã thành thực chẳng những với lòng mình mà còn với
người đọc. Những điều mà Vũ Bằng viết ra tôi tin rằng chẳng có ích bao nhiêu đối
với những người chưa hoặc không nghĩ tới chuyện làm báo, nhưng nó rất cần thiết
cho lịch sử báo chí và những ai muốn sống đời ký giả. Bán cả một cuộc đời để
được trả bằng mấy trăm trang sách kể là quá đắt”.

 

Cuốn hồi ký Bốn mươi năm nói láo đã nói lên tất cả mọi
khía cạnh đặc thù – trong đó – Vũ Bằng đã ký thác tâm sự mình, ký thác “nghiệp
chướng” mình một cách quá đầy đủ về mặt báo chí: “Làm báo như hạng Nguyễn Phan
Long, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, viết một bài, Tây sợ chết cha chết mẹ, phải
mua chuộc hàng ngàn hàng vạn mà chưa chắc đã êm… Mê quá!”.  Và nghiệp
chướng đã chọn ông.

Từ năm 1929, ở cái tuổi 15 – 16, Vũ Bằng chính thức
bước chân vào cái nghề điêu đứng: nghề làm báo, từ bỏ giấc mộng mà bà mẹ đã từng
ấp ủ là sang Pháp học nghề thuốc.  Sinh ra và lớn lên trong một gia đình
làm nghề xuất bản ở Hà Nội, từ tấm bé ông đã có điều kiện vùi đầu vùi mộng vào
sách báo, và sớm nuôi mộng trở thành một nhà báo đúng lúc báo chí Việt Nam phát
triển, nghề viết báo đã trở thành một nghề “hot”, ký giả đã là cái nghề lý tưởng
với rất nhiều người trẻ thời ấy.

Điều kỳ lạ là Vũ Bằng đã vào đời, vào nghề với tất cả
đam mê đến sôi sục và ông đã băm bổ có mặt khắp các lĩnh vực của báo chí, từ chủ
bút, thư ký tòa soạn đến biên tập, đi nhà in và đặc biệt với văn tài của  mình, ông có thể viết tất cả các chuyên mục… Nếu tính những tờ báo mà Vũ Bằng
từng viết bài cộng tác trong giai đoạn ông làm báo ở Hà Nội (1929 – 1954) thì đó
là một con số đáng nể: Hữu Thanh, An Nam tạp chí, Đông Tây, Rạng Đông, Nhật Tân,
Trung Bắc tân văn, Công dân, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san,
Truyền bá, Tương lai, Vịt đực, Trung Bắc chủ nhật, Trung Việt tân
văn…

Nhà báo ấy từng trở thành một người hùng trong mắt bạn
bè, độc giả khi chủ trương thành lập và trực tiếp xắn tay vào công việc của báo
Vịt đực – tờ báo trào phúng đầu tiên ở Việt Nam. Làm Vịt đực, Vũ Bằng và
các bạn ông thả sức dùng tiếng cười để chế giễu, đả kích các loại quan to quan
nhỏ của chính quyền Nam triều và chính phủ Bảo hộ, với phương châm: “Đã không
chửi thì thôi, đã chửi thì đối phương khôn nhất là im
đi…

Chúng tôi quyết chửi trường kỳ, chửi hàng tháng, hàng
năm, theo kiểu Ba Giai – Tú Xuất, kỳ cho đến khi nào chán và hết vấn đề để chửi
mới thôi” (Bốn mươi năm nói láo). Đến cả viên Thống sứ Pháp và cả Bảo Đại cũng
là đề tài  bị Vịt đực móc máy, bóng gió chỉ trích châm biếm…  Nhưng
sau 52 số tung hoành trên đủ các mặt của đời sống xã hội Bắc Kỳ, tờ báo ấy đã bị
đóng cửa!.

Vịt đực đóng cửa, ông Vũ Đình Long đã sớm thu nhận Vũ
Bằng về, để cùng một lúc ông trông nom ba tờ báo cho Tân Dân, là Tiểu thuyết thứ
bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Truyền bá. Làm sao mà một người có thể lao động
báo chí khủng khiếp như vậy? Chỉ có thể là tài năng. Quan trọng hơn, Vũ Bằng
thời kỳ này đã phát hiện và nâng đỡ nhiều tài năng văn
học.

Nhờ có con mắt xanh ấy, truyện của Nam Cao mới được in
liên tục và cái bút danh Nam Cao ngày càng nổi tiếng. Vũ Bằng cũng là người có
công phát hiện ra Tô Hoài khi ông chọn đăng truyện ngắn đầu tay Đôi chim gi đá
của Tô Hoài trên Tiểu thuyết thứ bảy, và tiếp đó, lại đăng trên tờ Truyền bá một
tác phẩm khiến tên tuổi Tô Hoài trở nên nổi tiếng: Dế mèn phiêu lưu ký. Chịu
trách nhiệm cùng lúc ba tờ báo, ông đã tập hợp văn hữu bạn bè khuyến khích họ
sáng tác và đã có những tác động nhất định tới con đường sáng tác của anh em văn
hữu.

Và từ cái nôi văn chương báo chí ấy, nhiều tên tuổi sau
này đã được khẳng định. Trong cuộc đời làm báo, nhân cách người cầm bút luôn là
nỗi day dứt đời ông… “Viết lách đơn độc và tự xoay mình trong quỹ đạo của chế
độ Ngô Đình Diệm, không có tự do, không có dân chủ, tôi sẽ thành ra thứ người
gì?”.

Thời ấy giữa chế độ Mỹ ngụy ở Sài Gòn mà người ta nhận
thức rất rõ ràng, làm báo “là làm một cái gì nghiêm trang cao quý, có tính năng
tranh đấu và xây dựng, mà người làm báo phải tha thiết với tự do, dân tộc, kinh
qua những nghịch cảnh, thăng trầm để chống lại độc tài, độc đoán dưới mọi hình
thức quan lại, phong kiến hay dân chủ giả tạo” (Bốn mươi năm nói
láo).

Tất cả những day dứt trước thời cuộc và “nghiệp chướng”
của mình chứng tỏ ông là một nhà báo chân chính. Không như những người kiếm sống
bằng nghề viết lách, ông đã tự cật vấn mình và ngẫm ngợi nhiều về nghề nghiệp
của mình. Một đời gắn bó với nghề báo bắt đầu từ tuổi thiến niên, từng múa bút
tung hoành trên mặt báo khắp trong Nam ngoài Bắc, Vũ Bằng đã có quá nhiều trải
nghiệm với những vinh – nhục, được – mất.

Có thể nói ông đã làm báo với một niềm say mê lớn lao,
và vì nghề, ông phải chịu một nghiệp chướng. Nhưng ông không ân hận. Bằng chứng
là khi khép lại tập Bốn mươi năm nói láo của mình, ông đã viết như một lời
nguyền: “Người mẹ nào sinh ra con lại chẳng muốn cho con sau này ăn nên làm ra,
có vai có vế. Nhưng mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với mẹ: Nếu trở lại làm
người, con cứ lại xin làm báo!”.

Nhưng  chân dung nhà văn – nhà báo Vũ Bằng vẫn còn
những bí ẩn mà một đôi khi nghĩ đến ông, tôi cảm thấy đau lòng. Nói như nhà văn
Văn Giá: Cuộc đời ông hẳn là một trường hợp éo le vào bậc nhất trong đội ngũ
những nhà văn hiện đại Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Khác với Vũ Hoàng Chương
than thở: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi
khinh”, Vũ Bằng đã chọn con đường cách mạng kháng chiến như một cách nhập thế”;
Vũ Bằng là nhà văn biết trải lòng yêu nước thương nòi và tự nguyện âm thầm đi
vào đội ngũ những chiến sĩ kháng chiến.

Năm 1948 từ vùng tản cư, Vũ Bằng đưa vợ con về lại
thành chịu tiếng “dinh tê” để được bí mật hoạt động trong mạng lưới tình báo nội
thành. Chủ động nhận cái án dư luận là kẻ phản bội để tạo vỏ bọc cho mình, là
chấp nhận hy sinh, là chấp nhận vợ con, gia đình phải chịu điều tiếng, khổ
đau… Nhưng  nỗi oan ấy, cái án phản động ấy đã đeo đuổi ông cho đến lúc
xuống mồ chưa được giải.

Đó là một bí ẩn? Nhà phê bình văn học Văn Giá là người
đã cất công đi tìm chân dung chiến sĩ cho Vũ Bằng và để giải oan cho ông từ hàng
chục năm trước từng viết: Nhà văn Vũ Bằng đã là một trí thức, một chiến sĩ cách
mạng đứng hẳn về phía nhân dân góp phần nhỏ bé vào thắng lợi chung của dân tộc.
Chấp nhận hy sinh danh tiết trong một tình thế ngặt nghèo như vậy, con người ấy
phải có một nghị lực lớn, một tấm lòng kiên trung đến nhường
nào.

Ông Vũ Hoàng Tuấn, con trai trưởng của nhà văn kể lại:
Năm 1954, hai mẹ con anh xuống Hải Phòng để tiễn Vũ Bằng xuống tàu vào Nam.
Tuấn lúc đó mới mười mấy tuổi, cứ nằng nặc đi theo
bố.

Ông bảo con: Nước độc lập rồi. Con còn phải ở nhà học
chứ! Hai năm nữa sau Hiệp định thống nhất, lúc đó bố lại về với con”… Hai mẹ

con bà Quỳ đã gạt nước mắt trở về Hà Nội đợi ngày tái ngộ… Nhưng đất nước bị
kẻ thù chia cắt lâu dài. 21 năm chia ly ấy đã làm ông khắc khoải trong văn
chương một nỗi nhớ Hà Nội, nơi có người vợ tảo tần và đứa con đầu lòng như đã
biết.

Và trong lòng Sài thành, Vũ Bằng tiếp tục âm thầm làm
sứ mệnh của người chiến sĩ tình báo. Đại tá  Trần Văn Hội là người phụ
trách lưới tình báo đã xác nhận điều đó. Nghề tình báo là thế. Đơn độc và cô đơn
giữa đất nước mình, giữa gia đình, bạn bè mình… Và Vũ Bằng là một điển hình về
đức hy sinh của người chiến sĩ như vậy.

Đại tá tình báo Trần Văn Hội cho biết, sau giải phóng
hơn một năm thì gặp lại Vũ Bằng, thấy gia đình nheo nhóc, liền đến cơ quan đề
nghị trợ cấp cho Vũ Bằng hơn tạ gạo. Cẩn thận, ông viết cho Vũ Bằng giấy xác
nhận là thành viên cơ sở trong mạng lưới tình báo do ông phụ trách nay đã hoàn
thành nhiệm vụ. Đưa giấy xác nhận, rồi ông nói với Vũ Bằng rằng cứ sinh sống
bình thường, nếu ai hỏi gì đã có bằng chứng ấy.  Ông Trần Văn Hội cùng vợ
con ra Hà Nội sinh sống. Ông cũng không ngờ, khi xa nhau, Vũ Bằng ở lại phải
chịu nhiều nỗi truân chuyên đến thế…

Nhà văn Văn Giá kể: Tôi có gặp trực tiếp hỏi ông
Hội rằng thế khi hai ông xa nhau, Vũ Bằng không liên lạc gì với ông sao, ông cho
biết ngày đó Bắc Nam cách trở, tuổi cao sức yếu, chả có liên lạc thư từ gì, thì
vẫn cứ yên tâm rằng Vũ Bằng yên ổn…

Nỗi oan của nhà báo Vũ Bằng đã được giải, có công của
nhà phê bình văn học Văn Giá. Đó là hành trình tìm được đồng đội và người chỉ
huy năm xưa đã liên lạc và giao nhiệm vụ cho Vũ Bằng. Từ năm 2000, nhà báo Vũ
Bằng đã được công nhận chính thức là chiến sĩ tình báo có bí danh X10, và được
tổ chức biệt phái vào Nam năm 1954.

Ông được xác nhận và được Nhà nước truy tặng Huân
chương kháng chiến hạng Nhất, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật… Nhà
văn Triệu Xuân – Giám đốc Chi nhánh Nhà xuất bản Văn học tại TP Hồ Chí Minh cho
biết thêm: Trong kỷ yếu nhà văn in năm 2007, Vũ Bằng được công nhận là Nhà văn
trước khi thành lập hội 1957…

Bây giờ lúc kỷ niệm 100 năm sinh thì Vũ Bằng đã về miền
cát bụi chẵn 30 năm, mang theo nhiều bí ẩn về chính cuộc đời và nghiệp chướng

của mình. Nhưng tôi tin lịch sử vốn công bằng. Hy vọng sẽ có lúc những sự thật
và bí ẩn ấy được sáng rõ, để chân dung nhà báo Vũ Bằng lung linh hơn, rực rỡ
hơn…

Tâm Linh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *