Có đức mà không có tâm thì chỉ là một cỗ máy

 

(Tạp chí VHNA báo giấy, số 247, ra ngày 25.6.2013, mục Diễn đàn văn hóa)

Hai tuần lễ đã trôi qua kể từ khi được đọc bài viết “Cái nạn điển Tàu” đăng trên Văn hóa Nghệ An ngày 3 tháng Sáu vừa qua, hôm nay, tôi mới cảm thấy đủ dũng cảm để xin được bày tỏ với quý báo và các bạn đọc những suy nghĩ về nội dung của bài viết có liên quan nhiều đến cái gốc trong tư duy của mỗi người.

“…Đâu rồi lịch sử của các văn nhân Việt Nam mà mỗi lời của họ với tôi mới là những lời vàng lời bạc, những lời mà họ đã chắt lọc được trên thực tế mà họ trải nghiệm ở chính quê hương này?..”. Đoạn văn này trong bài viết của tác giả Trần Thị Phương Hoa, chính là chất kích thích để tôi viết bài “phụ họa” này. Tôi hy vọng, nó sẽ đưa đến cho ai đó thêm những chứng cứ sinh động về các văn nhân Việt Nam, những người đã dày công xây dựng một nền tảng văn hóa độc lập cho xã hội tri thức của người dân Việt Nam từ khi đất nước còn ngập chìm trong cảnh u mê về một khái niệm của sự “tiến bộ”. Cụ thể ở đây, vừa để phúc đáp và bổ xung cho điều “đâu rồi lịch sử các văn nhân Việt Nam…” của tác giả Phương Hoa, và cũng vừa để gửi đến tác giả được lưu ý là Phương Lưu (báo Văn nghệ), tôi xin mạnh dạn minh chứng đôi điều về một văn nhân không thể chối bỏ trong lịch sử văn hóa nước nhà, Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người mà chí sỹ Nguyễn Văn Tố đã xác nhận là: “…Từ năm 1905, sau khi đã rũ bỏ được công việc nhà nước, có phần nào cũng đã rủ bỏ được những lo âu chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ còn sống cho đồng bào mình…”(1). Tôi tin rằng, dù không phải là những “nhà” nghiên cứu, không phải là những người có chuyên môn trong lĩnh vực Khoa học Xã hội, chúng ta cũng vẫn đồng ý một điều là Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Văn Vĩnh đều là các văn nhân Việt Nam ưu tú, theo khái niệm của tác giả Phương Hoa nêu trong bài viết của mình.

Với 30 năm lao động không nghỉ trong lĩnh vực văn hóa, Nguyễn Văn Vĩnh nuôi trong lòng không biết cơ man nào những ý tưởng cụ thể về việc xây dựng cho nhân dân An Nam thời đó những quan niệm, những khái niệm về ý nghĩa và giá trị của chữ viết, từ chữ viết sẽ dẫn đến sự khai thông tri thức. Rồi ông còn diễn giả về thế nào là tri thức, vì sao phải có tri thức, tri thức sẽ đem lại gì cho cuộc sống con người?! Ngay từ những ngày đầu tiên khi tham dự vào việc giảng dạy trong Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ là “Đăng Cổ tùng báo”, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết: “ Thường có kẻ binh chữ Nho nói rằng: chữ Nho nghĩa lý sâu sắc, có thể làm ra bài văn hay. Ta tưởng, cái sâu sắc bởi ở sự dùng chữ mà ra…”(2). Vậy cho nên, người đương thời đã viết: “Có người bảo: “Ngọc lành bị vết, tiên sinh trong lúc thiên hạ khóc đã nở cười”, nhưng ta bảo, đêm vắng người thưa, tiên sinh trong lúc thiên hạ mê, một mình tỉnh…”(3).

Tác giả Phương Hoa, theo suy diễn của tôi, đúng là mẫu người có lối sống được chi phối bởi chữ tâm , mà phàm những ai sống vì tâm, thì lương tâm lúc nào cũng bị giày vò khi phải chứng kiến những gì bất thường sảy ra chung quanh mình, nhất là những hành xử thiếu vắng cái căn cốt của tâm! Day dứt đến mức không bỏ qua được và phải “rên” lên rằng: “…Có đức mà không có tâm thì chỉ là một cỗ máy. Chính vì thế Nguyễn Du nói “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Văn Vĩnh không phải là con người thích triết lý và cũng không cố tình triết lý hóa những quan điểm của mình khi viết bài hoặc khi diễn thuyết. Ông bày tỏ những suy nghĩ và hiểu biết của mình một cách tự nhiên, giản dị. Ông cũng là người không khi nào sợ hãi điều gì đó, thậm chí cái gì đó, đặc biệt là khuyết điểm. Có thể vì thế mà ông được mệnh danh là người “có một cuộc đời sạch sẽ…”(4).

Tôi có được nhận thức này  nhờ việc quan sát suốt chiều dài cuộc đời ông, thông qua những gì ông để lại bằng con chữ, và không phải chỉ do ông viết ra mà từ những tư liệu quá khứ để lại của những người cùng thời. Năm Nguyễn Văn Vĩnh mới 24 tuổi, trong một bức thư viết ngày 27.6.1906 từ Mác Xây (Pháp) gửi cho người người bạn thân là Phạm Duy Tốn, khi nói về sự yếu kém của con người, nói về cái sỹ diện hão của con người hay sợ kẻ khác nhìn mình với con mắt coi thường nếu thấy mình kém cỏi, nên hay tìm cách né tránh sự phê phán của dư luận, ông đã viết: “…Vả lại, nhận lỗi của mình, có phải là một sự nhục nhã gì cho cam! trong cõi đời này, ai lại chẳng có tính xấu, người nào mà đã trông thấy nhiều điều lầm lỗi của mình, người ấy gần đi đến chỗ hoàn toàn…”. Thế mới thấm cái khác biệt “tệ hại” giữa tâmtài!

Tôi xin được thể hiện sự trân trọng trước quan điểm của tác giả Phương Hoa khi bàn đến lĩnh vực tâmđức, một đề tài đã quá xưa với nhân loại, xong nhận thức việc “có đức mà không có tâm thì chỉ là cỗ máy…” làm tôi thấy thật sự đắc ý! Bởi lẽ, lâu nay người ta thường xoay quanh điều dễ nhìn thấy hơn là tàiđức. Trong địa hạt này, tôi cũng có được một nhận thức dứt khoát gần đây về nhân tàinhân cách, là hai phạm trù khác biệt hoàn toàn. Khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã hình thành trong suy nghĩ nhận định nêu trên.

Thực tế cho thấy, ngay cả khi Nguyễn Văn Vĩnh rất hài lòng về những thành công của mình trong sự nghiệp xây dựng nền văn học chữ Quốc ngữ, nền xuất bản báo chí Việt Nam từ những năm 10 của thế kỷ XX, đặc biệt là khi ông cho ra đời tờ báo “Trung Bắc Tân văn” năm 1917, đồng thời năm 1919, trở thành tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, ông được dư luận tán thưởng nhiệt thành và ngợi ca rộng khắp, ông vẫn lặp đi lặp lại nhiều lần trên tờ báo do mình làm chủ bút năm chữ: Tôi chỉ là người thường! Tôi chỉ là người thường! Theo tôi, chính nhờ vào nhân cách rất chân thực và trung thực của mình mà Nguyễn Văn Vĩnh thành nhân tài!

Để không quá dài trong khuôn khổ của một bài viết có tính “phụ họa”, và để không đi xa với nội dung của bài viết trên Văn hóa Nghệ An của tác giả Phương Hoa, tôi xin gửi đến quý báo, gửi đến tất cả những người Việt Nam làm văn hóa trên và ngoài đất nước này một trong nhiều câu nói không hề triết lý nhưng rất thật tâm với ý nhắc nhở của Nguyễn Văn Vĩnh lúc sinh thời, được in đi in lại nhiều lần trên tờ báo định mệnh xuất bản bằng tiếng Pháp của ông, tờ “L’Annam Nuoveau” (Nước Nam Mới) 1931-1936. Tôi xin được gửi đến các độc giả nguyên văn câu nói bằng tiếng Pháp, được chuyển ngữ sang tiếng Việt và tiếng Anh, bởi lẽ điều này không chỉ dành cho những người Việt Nam làm văn hóa ở trong nước:

L’Annam a ete perdu par les lettres qui littérature chinoise.

Tachons de ne pas devenir des lettrés qui ne font que de la litterature francaise.

Nước Nam đã bị mất bởi những trí thức Nho học chỉ biết làm văn chương Tàu, chúng ta cố gắng đừng để trở thành những trí thức mới chỉ làm có văn chương Tây.

This southern land of ours was lost because of Confucian

intellectuals who knew only how to write in Chinese. We must strive to avoid becoming new intellectuals who know nothing but French literature.

Hà Nội, ngày 18.6.2013                                      

Nguyễn Lân Bình

Chú thích:

(1) “Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh” bài của Nguyễn Văn Tố viết bằng tiếng Pháp, đăng trên tạp chí “Tin tức-Hội Tương tác giáo dục Đông Kinh”, số 16 năm 1936.

(2) Bài của “Người An Nam nên viết chữ An Nam” của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên số báo đầu tiên của “Đăng Cổ Tùng báo” ra ngày 28.3.1907 tại Hà Nội.

(3) Trích bài bình luận về cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh, viêt ngày 6.5.1936 trên báo “Đuốc Nhà Nam”, nhật báo xuất bản tại Sài Gòn lần thứ nhất, số 1 ngày 26.9.1928.

(4) “Người Man di Nguyễn Văn Vĩnh”, báo Thanh Niên ngày 13.5.2013.

                                    ===================

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *