Định nghĩa văn hóa

 

Văn hóa là “tín ngưỡng, là “tôn giáo” cao nhất của con người văn minh trong ứng xử, trong phẩm cách, để tránh những húy kỵ của kiếp người sống ở đời. Văn hóa buộc con người biết hành xử đúng, khiến con người ta, từ lời nói đến hành động phải nhất quán, để đồng loại tôn trọng. Nhưng điều đó còn tùy thuộc vào trình độ, khả năng nhận thức, tư duy và cả sự …tu thân của con người.

(Kỳ Duyên. Tuần VN.” Khóa môi…và từ chức “ 27.11.2012)

Tôi đọc những dòng viết trên đây, lòng dạ thấm thía. Hình như cuộc đời luôn công bằng khi nhìn vào những điều chỉ bảo của cổ nhân, của những bậc thánh hiền?! Tôi nhớ không nhiều ca dao, tục ngữ, nhưng câu nào đã nhớ thì nó cứ quấn quýt lấy mình, làm cho mình cứ trăn trở và suy ngẫm… Tôi xin được nhắc lại không đầy đủ một lời nhắc nhở của người đời rằng: “Tạo hóa rất công bằng ở chỗ, chỉ cho người ta khôn khi đã luống tuổi!”. Còn vì sao lại như vậy, lại là một vấn đề khác. Hôm nay, tôi chỉ xin được bàn đến một đề tài:“Có hậu”.

Dù là ai, nếu cứ hay lý sự rồi dẫn đến sính lý luận, sẽ dễ làm cho những người chung quanh mình thêm sốt ruột. Tôi muốn giãi bày với các bạn độc giả một việc thật cảm động, liên qua đến hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, nhân lần giỗ thứ 77, (12.3 Âm lịch). Đồng thời, cũng là nén hương của hậu duệ gần xa trước vong linh của người đã khuất. Câu chuyện thế này:

Năm 2011, có một vị Phó giáo sư tìm tôi qua điện thoại. Lý do lúc đầu, là do đọc báo và xem truyền hình TTX.VN, được biết tôi là người đang làm những việc liên quan đến sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, nên vị Phó giáo sư tìm và đặt vấn đề hỏi tôi:

Anh cho biết, có phải trong thành phố HCM.đã có một con đường mang tên Nguyễn Văn Vĩnh rồi phải không?

Tôi khẳng định ngay: Dạ đúng!

Vậy chúng tôi muốn được gặp anh, để trao đổi về việc cần gửi bản kiến nghị lãnh đạo Thành phố HN, nghiên cứu, xem xét việc đặt một con đường mang tên Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi thấy rất lạ, là vì sao ở HN lại chưa có đường phố mang tên cụ nhỉ…?!

Tôi hạnh phúc khi nghe một ý kiến như vậy qua điện thoại. Tuy nhiên, vì là điện thoại, nên tôi cũng không tiện nói dài. Tôi vắn tắt: Vấn đề này lớn đấy ạ, không thuần túy như nhiều người nghĩ đâu ! Thôi, tốt nhất là xin mời anh đến chơi, chúng ta sẽ cùng trao đổi. Chắc chắn khi gặp gỡ, tôi sẽ trình bày, tôi tin, khi nghe tôi trình bày, anh sẽ yên tâm, và hiểu rằng, vì sao tôi lại nói, đây là vấn đề lớn.

Lúc này vị Phó giáo sư mới nhẹ nhàng tâm sự: Xin thưa, mình cũng là cháu rể của cụ Vĩnh đấy. Lúc vợ chồng mình cưới nhau, bọn mình còn đến trình diện cụ bà Vĩnh mà, hồi đó bà còn ở phố Trần Quốc Toản. Năm, sáu mươi năm rồi…không có dịp để qua lại, để thăm hỏi những người họ hàng…Gần đây, nhiều báo bình luận bộ phim tài liệu về cụ, mình khát khao muốn được tìm hiểu rõ hơn, mình mong lắm…Thôi, tìm và nói chuyện được với anh qua điện thoại là mừng lắm rồi. Tôi sẽ trao đổi lại với gia đình và xin hẹn anh một buổi gặp nhé. Trước khi đến, chúng tôi sẽ alô cho anh qua điện thoại!

Từ lúc đó, tôi thấy bồn chồn và sốt ruột muốn biết, người họ hàng của mình ra sao, họ là họ thế nào…? Mà người này hay thật, nhất là khi xác định với tôi một cách rất giản dị và tự nhiên về việc đã viết kiến nghị để gửi các cấp có thẩm quyền của thành phố Hà Nội, để xem xét việc đặt tên đường, phố Nguyễn Văn Vĩnh. Có thể nói, trong gia tộc chúng tôi, ít ai hiểu thấu đáo lý do vì sao “họ” chưa thể đặt tên Nguyễn Văn Vĩnh cho một con phố ở Hà Nội ?! Tôi tư lự, vừa xúc động vừa thấy thương người họ hàng của mình khi nhìn vấn đề này ở một góc độ hơi giản dị và chân phương như vậy.

Không sao, hãy giúp người khác hiểu những gì mình biết ! Âu đó cũng là sứ mạng và nghĩa vụ cao quý của bất kỳ ai có lối sống vì mọi người.

*********

Cụ Nguyễn Văn Trực, người làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), bỏ quê ra Hà Nội từ những năm 70 ở thế kỷ XIX. Cụ ở nhờ nhà người họ hàng bên ngoại tại số nhà 46 phố Hàng Giấy và sinh hạ được 8 người con (gồm 2 trai và 6 gái).

Đầu lòng của cụ Nguyễn Văn Trực là một người con gái, người này tên gì, cho đến nay trong gia tộc cũng không ai nhớ (Chuyện này, liên quan đến tập quán sống của người Việt thời đó, vì khi người phụ nữ đi lấy chồng, người ta không gọi tên riêng nữa, người đó sẽ mang tên của người chồng). Người chị này lập gia đình và người chồng có tên là Trần Diễn Thản. Trong nhà vẫn quen gọi là “bà Bá Thản”. Tình cảnh này cũng lặp lại với 4 người em gái của Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh là con trai cả, liền sau Nguyễn Văn Vĩnh là một người em gái, có tên là Nguyễn Thị Liên, rồi tiếp đến  người em trai là Nguyễn Văn Thọ …và út là em gái Nguyễn Thị Tý. Xin xếp thứ tự để những người liên quan dễ nhận biết.

      Những người con của cụ Nguyễn Văn Trực:

  1. Con gái đầu lòng có chồng là Trần Diễn Thản (Bá Thản).
  2. Con trai cả là Nguyễn Văn Vĩnh.
  3. Con gái thứ là Nguyễn Thị Liên, chồng là Nguyễn Trọng Lộc.
  4. Con trai thứ là Nguyễn Văn Thọ ( có gia đình và chỉ có một người con gái sống trong thành phố Hồ Chí Minh, thường được gọi là bà Tham Phong).
  5. Người con gái thứ tiếp theo cũng chỉ biết tên chồng là Nguyễn Đình Đức.
  6. Người con gái tiếp theo cũng chỉ biết tên chồng là Lê Quang Trường.
  7. Người con gái giáp út lấy chồng và tên chồng là Đoàn Trọng Phan.
  8. Con gái út là Nguyễn Thị Tý, chồng là bác sỹ Trần Văn Lai.

130419_Scan20013edit

Cụ Nguyễn Trọng Lộc (Em rể học giả Nguyễn Văn Vĩnh)

Liên quan đến sự kiện nói ở phần đầu, để không đi xa với nội dung của bài viết và không gây phức tạp cho người đọc, trong bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến gia đình người em gái liền kề của cụ Nguyễn Văn Vĩnh là bà Nguyễn Thị Liên.

130419_Scan20014edit

Cụ bà Nguyễn Thị Liên (Em gái học giả Nguyễn Văn Vĩnh)

Người em gái Nguyễn Thị Liên (sinh năm 1885), Bà lập gia đình với ông Nguyễn Trọng Lộc (sinh năm 1878). Ông bà có với nhau được 7 người con, trong đó có 3 người con trai và 4 người con gái. Theo lời kể của những bậc cha chú trong gia đình, ông Nguyễn Trọng Lộc là người đàn ông có dáng vẻ hấp dẫn, hiểu biết xã hội, nói tiếng Pháp rất thành thạo. Ông hành nghề kế toán và làm cho sở Tây. Với từng ấy tư chất, ông mặc nhiên được mọi người chung quanh biết, ông là kẻ đào hoa!

Con người của Nguyễn Văn Vĩnh, nhìn từ nhiều góc độ đời thường, là một mẫu người cởi mở, tác phong nhanh nhẹn, ứng xử minh bạch. Những người nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh (cho dù phục vụ những mục đích khác nhau), đều nhận định rằng: không thấy trong các tài liệu, khi viết về ông, cả bằng tiếng ta lẫn tiếng Tây, mà nêu những điều không tốt, có tính chê bai về lối sống, về tác phong sinh hoạt và các mối quan hệ xã hội ở ông. Nguyễn Văn Vĩnh là người sống quảng đại. Nhờ có vốn trí thức phong phú, hiểu nhiều điều trong cuộc sống một cách thấu đáo, và luôn nhìn cuộc đời với con mắt độ lượng. Ông yêu quý, thương, và đùm bọc, chia sẻ với tất cả những người ruột thịt, họ hàng xa gần (điều này được xác nhận qua các thành viên là con cháu của những người anh chị em họ của cụ Vĩnh).

Những ai đã có dịp đọc cuốn hồi ký, hoặc cuốn sách “40 năm nói láo” của nhà văn, nhà tình báo Vũ Bằng, người ta còn được chứng kiến lối sống phóng khoáng, cùng với cách cư sử nhân ái của Nguyễn Văn Vĩnh với các bạn bè và đồng nghiệp trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Nguyễn Văn Vĩnh đối xử tử tế ngay cả với những kẻ tìm cách lừa gạt ông để có tiền.

Tôi xin nhấn mạnh ở góc độ nhìn nhận về những cái hay trong bản chất và tính cách của con người Nguyễn Văn Vĩnh. Ông là người không chấp nhận sự dối trá, không e ngại việc nói thẳng, nói rõ và nói hết với bất kỳ đối tượng nào,không loại trừ bất kỳ một ai. Với lối sống đó, với quan điểm đó, ông đã hành xử một cách quyết liệt với những điều mà theo ông là không tốt, không trung thực và có hại…

Cuối những năm 10 của thế kỷ 20, khi người em rể Nguyễn Trọng Lộc sang Pháp, ông Lộc đã phải lòng một người phụ nữ khác. Việc một người đàn ông phong lưu, phải lòng một người đàn bà nào đó, phàm chẳng phải là điều gì khó hiểu hay kỳ lạ. Nhưng việc người em rể của Nguyễn Văn Vĩnh, đam mê một người đàn bà khác đến mức định ở lại nước Pháp, bỏ lại sau lưng một gia đình, với người vợ tần tảo, nhẫn nhịn và chịu thương chịu khó cùng đàn con dại ở quê nhà, là điều mà người anh vợ không thể chấp nhận được! Ngoài việc Nguyễn Văn Vĩnh khuyên giải người em rể theo lý, tình của người trong gia đình, Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định, phải can thiệp! Ông viết thư đến những cơ quan có thẩm quyền của Chính quyền đương thời, yêu cầu phải có biện pháp ngăn chặn ý định “chạy trốn” trách nhiệm của một người đàn ông, một người chồng, và đề nghị khi hết hạn thị thực, cơ quan có trách nhiệm phải đưa ông Nguyễn Trọng Lộc trở lại Việt Nam!

Năm 1922, Nguyễn Văn Vĩnh lại có cơ hội sang Pháp dự đấu xảo (Hội chợ các nước thuộc địa), ông đã đến tận cửa các cơ quan quyền lực của Chính phủ Pháp ở thủ đô Paris, gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng không được gia hạn thị thực cho người em rể. Nguyễn Văn Vĩnh chứng minh việc tiếp tục gia hạn thị thực cho Nguyễn Trọng Lộc là vi phạm pháp luật, là thao túng và đồng lõa với một người có hành vi vi phạm đạo đức, không hoàn thành nghĩa vụ của một người đàn ông, một người chồng…

Cách hành xử quyết liệt với thái độ thực sự tự tin của Nguyễn Văn Vĩnh trước một sự việc tưởng như chỉ là chuyện riêng đơn thuần trong nội bộ của một gia đình, nhưng đã làm cho các nhà chức trách của nước Pháp phải để tâm và chấp nhận lời đề nghị của Nguyễn Văn Vĩnh. Người Pháp thực dân, chẳng ưa gì Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng những cơ quan chức năng của Nhà nước Cộng hòa Pháp đã không thể coi thường ông, không thể coi thường những hiểu biết và khả năng biện chứng của Nguyễn Văn Vĩnh, đặc biệt khi đối thoại và khi viết trên giấy trắng, mực đen. Hành vi của Nguyễn Văn Vĩnh, không phải chỉ là bảo vệ hạnh phúc của người em gái, mà ở đây toát ra một thực tế rằng: Nguyễn Văn Vĩnh đã nắm được những kiến thức sâu sắc và toàn diện về nền luật pháp của nước Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh hiểu một cách thấu đáo những gì được phép và không được phép, là tiến bộ, là vì con người trong bộ luật của một Nhà nước được lập ra bởi nguyên tắc Tự do-Bình đẳng-Bác ái, mệnh đề mà đã được trả giá bằng cả cuộc Cách mạng năm 1789 (Công xã Paris). Nguyễn Văn Vĩnh tin vào sự minh bạch!

Quá khứ luôn là những dấu hỏi với những ai có tấm lòng với tiền nhân, với cội nguồn. Để xác nhận những tính cách và bản chất tốt xấu của người đi trước, chúng ta có thể thông qua những hành xử của các thế hệ là hậu duệ của bậc tiền nhân mà chúng ta quan tâm. Tôi viết được những dòng này, chính là nhờ việc đã quan sát và tiếp xúc với họ, đọc và tìm hiểu, tìm tòi và suy ngẫm trước những cứ liệu và dữ liệu liên quan đến con người thật hiếm gặp trong cuộc sống, trong kiếp người này. Tính cách này của Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành nguyên tắc tồn tại trong suốt cuộc đời làm chính trị, làm văn hóa của ông.

**********

Trở lại câu chuyện của vị Phó giáo sư mà tôi giới thiệu ở phần đầu của bài viết, xin thưa với các quý vị độc giả, đó là Phó giáo sư đại học của đại học Sư phạm Hà Nội, ông là Dương Xuân Trinh (sinh năm 1928), người có vợ là bà Nguyễn Thị Dung, gọi cụ Nguyễn Trọng Lộc và cụ bà Nguyễn Thị Liên là ông bà nội. Người con trai cả của hai cụ Lộc-Liên chính là ông Nguyễn Văn Dụ, thân sinh của bà Dung.

Một ngày lành đã đến với tôi, ông bà Dương Xuân Trinh cùng các anh chị em ruột và anh chị em họ, chi họ của cụ Hai Lộc, với những đồ lễ  trang trọng, nhờ người con trai lái xe đưa đến nhà riêng của tôi, thắp hương trình với tổ tiên về cuộc tái ngộ lịch sử này. Chao ôi là cảm động! Tôi lúng túng, phần vì là lần đầu gặp gỡ, phần vì băn khoăn trong cách xưng hô, bởi lẽ, nếu theo tập quán người Việt, con cháu của chi dưới thường phải gọi các thành viên của chi trên là anh, là chị, dù những người đó còn ít tuổi. Với cá nhân tôi, cảm thấy hơi ái ngại, vì hầu hết “các em” đều trên mình cả một, hai chục  tuổi…Tuy nhiên, tôi và một số người cùng hệ, đã xin tổ tiên lượng thứ và được xưng hô theo tuổi tác để tránh rơi vào cảnh lưỡng lự khi đối diện với nhau. Tôi học được điều này, thông qua chính trong gia tộc chúng tôi trong quá khứ, khi cha tôi, các bác, các cô, các chú trong nhà là con bà cả, nhưng vẫn gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là anh, mặc dù mẹ đẻ của ông là bà hai của cụ Vĩnh. Các bác tôi bảo với tôi rằng: “Bác Pháp giỏi lắm và sống tốt lắm, cả nhà đều quý!”.

Ở những bài trước, khi tôi viết liên quan đến đề tài gia đình và dòng họ, tôi vẫn không dấu được sự trách cứ đối với những thế hệ đi trước, rằng đã không chỉ bảo được chúng tôi đến nơi đến chốn, trong việc nhận biết một cách căn bản về những gì liên quan đến cội nguồn. Đành rằng, điều này cũng không tách rời với thực tế lịch sử, xã hội chính trị của một đất nước có quá nhiều những diễn biến không may trong quá khứ. Một lịch sử đã để lại không biết bao nhiêu những xáo trộn cuộc sống, mà chắc phải lâu nữa, chúng ta  mới có thể nhìn thấy sự rạch ròi và mạch lạc. Nhận thức như vậy, vì cứ nhìn cái sự kiện người Hàn Quốc, sau bao thế kỷ, những người có xuất xứ họ Lý, đã long trọng làm lễ về quê hương Bắc Ninh, cúi đầu nhận tổ tiên, gốc, nguồn. Thì chuyện gia tộc chúng tôi chẳng phải là điều ngoại lệ.

Vậy nhưng, không phải dòng họ nào cũng nhận được sự có hậu. Cha tôi, sinh thời, thường hay  nhắc các con: “Bà nội luôn nói, phúc đức tại mẫu!”.

Thành thật mà thú nhận, hồi nhỏ, có chán vạn câu răn dạy mà người đời hay lưu truyền, nghe đấy, xong có ý thức được bao nhiêu…hiểu được chừng nào?! Lạy Trời, thậm chí có hiểu được, nhưng để làm được như lời răn…khó quá! Phải đến một ngày, những kẻ có phúc mới vỡ lẽ ra nhiều sự việc, nhiều chuyện ngày xưa. Chỉ hiềm một nỗi, lúc đó…e đã thành muộn!

Những tấm lòng, những tình cảm, những cố gắng của các thành viên trong chi họ nhà cụ Hai Lộc đối với dòng họ chúng tôi, chắc chắn phải là sản phẩm của lối sống “Phúc đức tại Mẫu”. Tôi nói mạnh dạn ở đây, vì các chị, các anh là con, là cháu của những người con trong chi họ nhà cụ Hai Lộc, mà đặc biệt là hai người con trai Nguyễn Văn Dụ (con trai cả) và Nguyễn Văn Bình (con trai út) đã kiên nhẫn dạy bảo các con mình, rằng bà nội các con, cụ Nguyễn Thị Liên, người đàn bà kiên cường, bất chấp những thử thách, những xô đẩy của số phận, chịu đựng mọi nỗi khổ, mọi nỗi đau để nuôi và dạy các con mình, giữ lấy cái mái ấm, mà hồi xưa, nếu mất nó, không chắc có và còn các con, chứ khó để nói đến một sự thành đạt.

130419_0420copyedit

Bức ảnh chụp năm 2005 tại nhà riêng của người con gái cả ông Nguyễn Văn Bình (chị Nguyễn Thị Bình Thúy). Đây là buổi gặp của các vị là các con cụ Vĩnh với ông Nguyễn Văn Bình sau nhiều chục năm xa cách)

Cũng với ý thức về cụ bà Nguyễn Thị Liên, người có ông anh trai là Nguyễn Văn Vĩnh, đã hết lòng thương xót em gái, đã dám đối mặt với cả một hệ thống pháp luật, không mảy may run sợ trước cường quyền, và cũng không mảy may tự ti vì mình chỉ là dân của một nước nhược tiểu, một nước thuộc địa. Cốt lõi của tính cách đó, của con người đó, chính là nhờ ở vốn tri thức phong phú mà người anh đã dày công tự học, tự tìm cho mình một vị trí trong cuộc sống. Đúng như quan điểm của vị giáo sư. tiến sỹ Nguyễn Phương Ngọc, giảng viên tại đại học Aix-Provence, Cộng hòa Pháp, khi nói đến Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định: “Vì thế mà người Pháp đã luôn quý trọng Nguyễn Văn Vĩnh!”.

130419_Anh1edit

Lễ Thanh minh năm 2012 tại khu mộ của gia tộc học gỉa Nguyễn Văn Vĩnh, thuôc nghĩa trang Bãi Sấu, làng Phượng Dực, xã Phú Xuyên, TP.Hà Nội.

( Lần đầu tiên trong lịch sử gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, buổi lễ có mặt gần như toàn bộ các thế hệ là hậu duệ của gia tộc họ Nguyễn hiện đang sinh sống ở Hà Nội)

Tôi viết những dòng này, như một tâm sự gửi đến vong hồn của người quá cố, nhưng cũng là sự giãi bày với các bậc tiền nhân rằng, các vong có thể yên tâm với hậu duệ về những điều phúc đức mà ông, cha để lại. Mặc dù những điều đáng tiếc trong cuộc sống chẳng bao giờ hết…!           

Nguyễn Lân Bình.

Hà Nội, ngày 18.4.2013

(Tức ngày 9 tháng 3 Âm lịch)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *