Bộ mặt thật của nền giáo dục – Bài 3: Quốc gia văn minh

 

Khi có khả năng, các bậc cha ông gửi ta đi học chữ Nho ở nhà một ông thầy đồ, hoặc mời thầy về nhà dạy. Trước tiên, ta cần phải hiểu, các cụ muốn chúng ta sẽ trở thành những người văn minh.

Trong Tam Tự kinh có viết: “Nhân bất học, bất như vật” (Người vô học còn kém hơn con vật). Hoặc: “Ngọc bất trác, bất thành khí” (Ngọc quý mà không được mài dũa cũng không thành được vật quý).

Đã từ 30 năm nay mọi người đã than phiền, hôm nay người ta vẫn than phiền về cùng một việc: Đó là việc đổ xô nhau vào chốn quan trường, thi nhau xin làm các chức dịch của Nhà nước ! Con số này tỷ lệ ra sao so với những người lao động cần cù (kể cả số nhân viên tập sự trong các cơ quan, bộ máy của Chính quyền). Đừng quên rằng, không biết bao nhiêu đứa trẻ đang cắp sách đến trường nhưng cũng đang tơ tưởng sau này sẽ làm quan !

Luật pháp và các tập tục ở nước ta đã tỏ ra ưu đãi các nhà Nho một cách nực cười, ngay cả đối với các thầy khóa mới chỉ vượt qua được kỳ thi thứ nhất. Tuy nhiên. Có đến 9/10 các Nho sỹ không hy vọng đi được đến cái đích mình định. Từ góc nhìn này, ta thấy nền giáo dục tiểu học tự phát đã đáp ứng được nguyện vọng học tự nguyện của người dân, vì chính người dân đã tự tổ chức hoạt động này, bằng kinh phí của chính mình, theo cách của mình, không nhất thiết phải thi tuyển, cũng không cần phải có phép của chính quyền Bản xứ. Hôm nay, nếu mở một trường tiểu học mà không phải dẫn đến việc thi đỗ lấy bằng “Cepfi”(chứng chỉ), và lại chỉ dạy bảo những điều cần thiết cho việc kiếm sống, sẽ chẳng có cậu trò nào đến học. Ngược lại, ta thử mở một trường cho học sinh học chữ Nho, mời các nhà Nho thế hệ cũ đến giảng, dạy trẻ học những văn bản cổ theo phong cách cũ, cũng sẽ chẳng có mấy học sinh theo học nếu so với một lớp đồng ấu, sơ đẳng của các Hương sư hay Tổng sư lập ra. Các lớp này, đăng ký xin học khoảng sáu chục em, thực tế hàng ngày chỉ đến khoảng ½, và ngày mùa sẽ còn khoảng 1/3 mà thôi.

Như vậy, con cái của các gia đình nghèo, họ luôn coi việc phải đi học trường chữ Nho là “Cực chẳng đã”. Phải nói rằng, các bậc phụ huynh ở các lớp này cũng chẳng đóng thêm tiền nếu ở lớp có dạy thêm môn chữ Quốc ngữ hay môn làm tính. Tôi quan sát thấy có một số tư tưởng trái ngược nhau giữa hai đám trẻ, đám trẻ học chữ Nho và đám trẻ tinh quái ngoài đời, bọn tinh quái, chúng phải nhiều hơn từ hai đến ba lần.

Đáng tiếc, số ít trẻ chữ Nho lại cam chịu ở lại làng quê, còn số đông nọ chỉ coi làng quê là nơi bất đắc dĩ, khi có cơ hội, họ sẽ chuyển đến một trường ở thị trấn, hoặc sang một trường khác, nơi có điều kiện tốt hơn trong việc rèn luyện. Chính vì vậy, tôi không ngừng nghĩ đến một chương trình giáo dục cho khoảng giữa của hai thực trạng này, làm sao, để chương trình giáo dục tiểu học (cấp một) đồng thời cũng là chương trình giúp được các em chuẩn bị bước vào đời.

Hệ thống giáo dục cần phải thể hiện sự thuần túy An Nam, kể cả phần giữa và phần cuối của chương trình cần có sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa Khổng Tử. Thông qua những tư liệu, cần phải nắm rõ tính cần cù của dân ta. Họ cần mẫn theo cách cổ truyền như: việc học thuộc lòng, chép đi chép lại nhiều lần một đoạn văn, dẫn tới khả năng giảng nghĩa được, viết được những lời bình hoặc viết được một đoạn văn nghị luận. Cách viết bằng bút lông đã tạo nên những nghệ sỹ còn giỏi hơn một anh họa sỹ tồi, hoặc những anh thợ tô màu không năng khiếu. Tóm lại, những tập quán, những cử chỉ có tính trang trọng một cách ngây ngô nhưng đó chính là nền tảng của một nền luân lý.

Bên cạnh cái gốc của một nền văn hóa, cần phải chỉ rõ cho mọi người những việc cụ thể dù ngay trong chính gia đình của họ đã xây dựng nên, một thứ trật tự, để qua đó ai cũng phải biết tôn trọng và tuân thủ ý kiến của người khác, của người cha hay có thể của người anh lớn trong nhà. Đành rằng còn rất nhiều điều khác liên quan tới nhận thức của sự tiến bộ, sự biết hòa đồng giữa các chủng tộc, sự chấp nhận việc thay đổi nơi sinh sống, sự cần thiêt trong quan hệ với mọi người, ngoài những người họ hàng và láng giềng. Cuối cùng là sự phấn đấu cho cuộc sống tiện nghi, xứng đáng để được sống.

130306_Scan20002

Đoạn sông Sê Băng Hiêng, sát thị trấn Sê Pôn ( Lao), nơi tìm thấy con thuyền độc mộc mà trên đó là thi thể Nguyễn Văn Vĩnh. Bức ảnh nằm trong số 6 bức ảnh mà nhà cầm quyền Sê Pôn gửi lại cho gia đình khi gia đình sang nhận thi thể của ông ngày 3.5.1936.

Trên đây, chính là điều tôi đặt ra cho một chương trình tối thiểu của một nền giáo dục tiểu học hiện đại. Tôi nói là tối thiểu vì thực tế hiện nay, chương trình mà chúng ta thấy họ đang áp dụng với người dân bản xứ là quá nặng nề.

Nhìn vào những theo dõi toàn bộ sự hình thành những kết quả từ đầu đến cuối của một người học xong đến khi đỗ đạt, ta nhận thấy: Những điều có ích cho cuộc sống của anh ta đọng lại quá ít ỏi. Những kiến thức được coi là tốt đẹp với anh ta khi đi học, qua một thời gian dài đã đọng lại như những kỷ niệm, một thứ kỷ niệm sẽ mờ dần theo năm tháng và rồi nhận ra rằng: những kiến thức đã được nhồi nhét vào óc ta khi còn trẻ như một sự kỳ quặc !

Viết đến đây, tôi nhớ đến người thầy dạy tiếng Pháp cho tôi là ông Đỗ Đức Toại. Ông là thủ khoa khóa học 1890 của trường Thông ngôn ở Yên Phụ. Ông từng là Lý trưởng của làng mình và là một người nông dân hoàn hảo. Ông đã mất . Xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ đến ông !

Ông thủ khoa của khóa học 1892, bây giờ là Chánh Thư ký ngoại ngạch của một cơ quan Nhà nước, cũng đã sắp về hưu. Giờ rảnh, ông làm thêm nghề Đông y. Tôi tin chắc, ông ấy cũng không ngồi viết lại chính tả theo mẫu của năm 1892, và cũng không ngồi làm bốn phép tính, mặc dù trước đây ông ngại nhất môn này.

Chính việc thông qua những người như tôi kể, tôi thấy nhiều người trở thành Quan là nhờ sự đỗ đạt, và tôi phát hiện có những người rất kỳ quặc. Lúc đầu, họ còn quên những kiến thức đã học một cách điệu bộ, nhưng sau này, vì cũng chẳng dùng đến những điều đã học, thậm chí quên cả những từ tiếng Pháp rất thông thường, quên cả cách viết và những phép tính đơn giản nhất. Tôi xin được kể đôi ba trường hợp trên đây để minh họa cho một điều, mà trong thực tế thường gặp nhưng rất ít người để tâm đến, đó là: Trong đời sống hàng ngày của người dân An Nam, có một cái gì đó đã loại trừ khái niệm về khoa học chính xác. Thực tế, ai dám nghi ngờ lợi ích của khoa học chính xác ?!

Đây là một vấn đề cần được xem xét một cách kỹ càng và giải thích rõ hơn. Hôm nay, tôi chỉ đưa ra để chúng ta cùng suy ngẫm.

Những nhà sư phạm người Pháp đã đặt ra chương trình giáo dục ở nước ta, họ cũng đã nhiều lần sửa và hiệu chỉnh, có lẽ họ cũng đi từ nguyên tắc là: đặt con người trước những thực tế của Vũ trụ. Nếu như sự hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực này không thật cần thiết và bổ ích cho cuộc sống hàng ngày, thậm chí có thể quên được mà không hại gì, thì nhân cơ hội này nên sửa lại là tốt nhất.

Cứ theo nguyên tắc này, người ta đang hy vọng sẽ gạt bỏ được những sai lầm và những điều có tính mơ hồ trong giáo dục tiểu học. Tôi nghĩ, quan điểm của tôi, là họ cũng sẽ không thành công ! Ngay như ở Pháp, có khá đông người dân cũng quên rất nhiều những điều họ đã từng học ở trường, kể cả ngôn ngữ mẹ đẻ thông thường mà họ đã truyền đạt cho tất cả các công dân Pháp. Phải chăng, theo tôi, lả vì chương trình giáo dục tiểu học của các nhà sư phạm Pháp quá nặng nề ?!

Theo quan điểm của tôi: Một Quốc gia lý tưởng trong lĩnh vực giáo dục là một nước dạy được cho tất cả các công dân của mình biết đọc, biết viết. Mỗi người đều có khả năng diễn đạt, biết nghe, biết số học và những phép tính tối thiểu đối với các đơn vị đo lường thường dùng trong công việc của mình. Nếu sự giảm thiểu chương trình CEP(Tiểu học) về hai vấn đề này thôi, sẽ giúp cho tất cả mọi người dễ dàng nắm được, hiểu được. Tôi cầu mong như vậy ! Quốc gia nào thực hiện được cách giáo dục tối thiểu này cho đa số nhân dân của mình, theo tôi, đó là Quốc gia văn minh nhất Thế giới!

Những gì còn lại chỉ là thừa đối với 9/10 những người đi học, hoặc còn nhiều hơn thế. Cũng vì lẽ ấy, làm sao giúp người lao động quên bớt đi những khó nhọc (nhất là lao động chân tay) thay vì nhồi sọ cho họ những khái niệm mà sau này, họ không biết để làm gì…?

Hết

Nguyễn Văn Vĩnh.

Người dịch từ Pháp ngữ: Nguyễn Thị Mười.

Chỉnh sửa và hiệu đính kỹ thuật: BBT tannamtu.com

Comments

  1. Bài viết rất hay và ý nghĩa! Có lẽ giáo dục Việt Nam phải rất lâu rất lâu nữa mới có thể sản sinh ra những nhân tài có thể đưa đất nước tới sự thịnh vượng!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *