Bộ mặt thật của nền giáo dục – Bài 2: Giáo dục sơ đẳng là bậc thang đầu tiên của văn hóa đối với chúng ta

 

Quan niệm về một nền giáo dục sơ đẳng mang tính thực dụng của những người Hoa buôn bán có lẽ phù hợp với họ, nhưng không hợp với những người phương Tây. Giống như người phương Tây, chúng ta cũng muốn điều đó phải được kết hợp hài hòa trong giáo dục.

Chủ nghĩa Thực dụng giản đơn của những người Hoa buôn bán nếu đem so sánh với với Chủ nghĩa Thực dụng lý thuyết của người Pháp, ta thấy nó có phần lợi thế hơn ở mặt: không tạo ra sự lẫn lộn giữa thực tế của việc kiếm miếng ăn và việc chuẩn bị cho sự bước vào đời.

Những người Hoa buôn bán ở Quảng Đông, họ chủ trương dạy cho con em mình một lượng chữ Nho thông dụng, vừa đủ để giao tiếp khi buôn bán, gảy bàn tính (tính toán), làm sổ sách…Chúng chỉ cần biết đến đó, đủ để là nhân viên trong một cửa hiệu, cửa hàng. Những nhân viên buôn bán trẻ đó không hề được học về văn chương cổ điển hay nền luân lý trong gia đình… Những lĩnh vực này phải nhờ những người mẹ, phụ nữ bảo ban theo cách truyền khẩu ngay từ những ngày đầu khi mới được tiếp nhận vào làm việc trong cơ sở của họ.

Cái cách giáo dục chuyên theo kiểu thực hành này đặt các “thày” dạy vào cảnh không được các nhà buôn và người được học phải mang nợ, phải biết ơn suốt đời, khác hẳn với một nền giáo dục cổ điển khi các học trò phải đi tìm thầy để học, rồi từ đó mới có được nghề để đi tiếp đến những vị trí cao hơn trong cuộc sống.

130305_matgiaoducavatar

Những ai đã từng là kẻ tự học trong cái nền giáo dục thực dụng này, họ vẫn sống, vẫn lao động và phục vụ. Nền giáo dục sơ cấp của người Pháp không như vậy. Chương trình dạy của họ đều do các viên chức Nhà nước lập nên. Họ không chỉ nghĩ tới những mảng lý thuyết có tính lý luận hữu ích dành cho những kiến thức phổ thông, mà còn nghĩ tới những mục đích chính trị được quy định rõ ràng trong chương trình giáo dục dành cho lớp trẻ của một đất nước, đặc biệt họ nhắm đến việc thanh niên phải có một lý tưởng chung về sự tiến bộ. Việc này, nhất thiết phải có mối quan hệ hữu cơ giữa nền giáo dục sơ cấp bắt buộc với nền giáo dục cao đẳng. Trong mỗi một dân tộc văn minh, một Nhà nước, một Quốc gia, người dân phải đòi cho được các nhân vật lãnh đạo ưu tú, những người lãnh đạo tương lai của đất nước thực hiện nghiêm ngặt yêu cầu này.

Dân tộc An Nam đã được học văn hóa và tư tưởng Khổng Tử do những người Trung Hoa đầu tiên truyền dạy cho các trí sỹ Nho học khi đô hộ chúng ta, họ biết và đánh giá được khả năng áp dụng các kiến thức của những Nho sỹ của ta.

Nền giáo dục khởi đầu của chúng ta là hoàn toàn cổ điển. cách đào tạo của ông cha chúng ta đã áp dụng cũng gần giống như vai trò của những người thầy. Nó cho phép chúng ta là một nước có đồng văn và tạo ra lý tưởng tự trị đối với từng địa phương, tạo nên sự cạnh tranh của những nước nhỏ quay chung quanh một hạt nhân chỉ đạo, đó cũng là một Đế quốc ở trung tâm này. Nguyên lý này đã ra đời từ thời nhà Chu. Chúng ta cần hiểu và quan niệm đúng về ý nghĩa này, ý nghĩa của sự phụ thuộc và nội thuộc trong danh nghĩa, và nhân dân ta không bao giờ gỡ ra được. Tuy nhiên, sự lệ thuộc đó hoàn toàn chỉ có giá trị tinh thần, nó không thể là sự cản trở công cuộc phát triển của tinh thần một quốc gia. Điều này cũng không gặp sự phản đối trong bộ máy cầm quyền nhiều tham vọng của lục địa Trung Hoa, kể cả trong trường hợp, có thể một ngày mai họ trở thành Trung tâm ! Nói như vậy bởi vì: Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử của một Đế quốc rộng lớn nhân danh hạt nhân “Thiên tử”, họ đã rất nhiều lần bị hoán vị. Không bao giờ, kể từ người khùng và phiêu lưu như Nguyễn Huệ, cũng không bao giờ có tham vọng thâu tóm, thu phục các bang nhỏ ở phía Nam Trung Hoa vào đất nước An Nam với danh nghĩa là thực hiện sự nghiệp thống nhất, hay chinh phục.

Một nền giáo dục như vậy, không khi nào thể hiện là một nền giáo dục hoàn toàn hữu ích. Các nhân sỹ Nho học đã chỉ chấp nhận một nghề có tính chuyên nghiệp với danh nghĩa là “Tứ trát”. Nó bao gồm cả việc viết chữ đại tự “Bút thiếp”, trong đó với những người đã học chữ Nho tương đối đầy đủ, còn học thêm việc viết chữ bằng bút lông theo cách hành văn văn chương hành chính. Sự nắm bắt một số công thức nhất định mà người học sau này cũng không được lợi gì. Thực tế này, đã tạo nên các cá nhân có biên chế làm công việc bàn giấy gọi là quan lại, việc gọi là “lại” để tránh việc phải đề bạt vào vị trí người chỉ huy, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, cá biệt. Mặt khác, trong cái thế giới của những nhân viên ở các Tổng và các Xã, những nhân vật được gọi là Tổng lý hay Lý dịch, luôn chỉ được coi là những kẻ ăn bám vô dụng. Trong chuyện này, mấy ông Tây đã sai lầm trong việc đối xử tốt với tầng lớp này vì đã mặc nhiên coi họ là những người đứng đầu của một địa phương.

Điều muốn nói ở đây là: Bao giờ người An Nam ta cũng coi việc học hành như một phương tiện để chuẩn bị cho vai trò của kẻ lãnh đạo. Công việc học thực hành của các Nho sỹ chỉ là những hoạt động đặc biệt, tuy là nó khá phổ biến, song họ luôn coi đó là loại công việc được thì tốt, mà không được thì cũng chẳng sao ( Được chăng hay chớ ), vì thế, bất chấp cả việc nghề nghiệp có thể bị méo mó, họ cũng không nhất thiết phải học nhiều.

Một người công dân lý tưởng, phải là một người có khả năng chỉ dẫn cho người khác, nếu không dành cho một Nhà nước lớn thì cũng để dành cho chính gia đình mình. Cả hai lĩnh vực này đều như nhau mà thôi, vì gia đình là tế bào của một Quốc gia. Mục đích tồn tại của nó là để nuôi sống một đất nước. Đời sống không có mục đích nào khác là chính cuộc sống này.

Nhận thức như vậy thì công việc giáo dục sẽ luôn là điều cần thiết, dù cho những điều kiện để tồn tại được có bị thay đổi ra sao đi nữa. Hãy trân trọng những nguồn mạch của cuộc sống, vì sự sống là tạo nên cuộc sống và sẽ làm cho người ta được sống nhiều hơn. Chính trị, luân lý đạo đức, kinh tế đều phải thống nhất bởi lẽ đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội vẫn chỉ là một, vì nó đều là Đạo đức !

Vấn đề là làm sao để học được những quan niệm cao quý như vậy ?! Chúng ta hãy đi sâu vào việc tìm hiểu những tư tưởng của các nhà hiền triết, bởi họ đã tuân thủ những quy luật hình thành thế giới này theo những nguyên lý rõ rang.

Từ tư tưởng sẽ thành hình ra nhiều ý tưởng, hãy xác minh và chứng minh sự đúng đắn của nó. Bằng phương pháp này, chúng ta mới nhận thức được sâu sắc nhất những tư tưởng đó và sẽ tự dần nâng cao mình bằng với nguồn gốc phát sinh của tư tưởng đó.

Việc nghiên cứu những tư tưởng kinh điển, thoạt nhìn như nó chẳng liên quan gì đối với các nhà sư phạm hiện nay. Sẽ không có lý do nào để tồn tại nếu ta không hiểu được những giá trị tư tưởng ẩn bên trong tư tưởng ấy. Phân tích và phê phán đơn thuần sẽ chẳng có tác dụng gì nhiều. Hãy đi đến cùng để hiểu được nó. Một người học trò, sẽ hiểu được phần nào và hiểu được toàn bộ nếu chịu khó lật lên, lật xuống một con chữ, một vấn đề sau nhiều ngày xào đi, xào lại và sẽ là người học được nhiều hơn nếu so sánh với kẻ từng nắm được những định nghĩa, hàm ý sáng sủa trong những câu văn nhàm chán nhưng lại không hiểu được ý chính của nó !

Nguyễn Văn Vĩnh

(Còn nữa)

Người dịch từ Pháp ngữ: Nguyễn Thị Mười.

Chỉnh sửa và hiệu đính kỹ thuật: BBT tannamtu.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *