Nguyễn Văn Vĩnh: Bộ mặt thật của nền giáo dục (bài 1)

 

Nhân bất học, bất như vật” (Người vô học còn kém hơn con vật). Hoặc: “Ngọc bất trác, bất thành khí” (Ngọc quý mà không được mài dũa cũng không thành được vật quý).

                                                                    Tam Tự kinh

Gần đây, trên các phương tiện thông tin, chúng ta thấy rất nhiều lời bàn của các nghành, các giới, các gương mặt có danh khác nhau đánh giá về lối sống văn hóa của người dân Việt Nam trong lĩnh vực đọc. Phàm khi dư luận nóng lên về đề tài nào đó, thì một người bình thường sẽ cảm nhận được ngay rằng: đó là lĩnh vực có vấn đề…!!! Theo chúng tôi, điều đó hoàn toàn chính xác.

Một xã hội, không hướng người dân đến lối sống có thói quen đọc sẽ là nguyên nhân muôn thủa tạo nên những sự hiểu lầm, những quan điểm lệch lạc và những tranh cãi triền miên và dẫn đến những mâu thuẫn đáng tiếc! Khi con người ta không đọc, chính con người đó cũng không biết, mình có quyền gi? Phải hành xử ra sao, đặc biệt với đối tượng mình đặt sự quan tâm. Đành rằng, Tạo hóa đã không công bằng trong việc chia đều năng lực đọc cho tất cả mọi người. Rõ ràng, qua việc “đọc” người ta sẽ có thể hiểu người viết nghĩ gì và muốn nói gì, và vì sao phải nói như vậy ? Kiếp người thật ngắn, nhưng điều để lại được coi là quý giá nhất cho các thế hệ sau của cuộc đời một con người, đó là chữ. Và ai cũng đồng ý rằng: con chữ thì sẽ sống mãi với thời gian, đơn giản vì nó chính là sản phẩm, là tinh túy của trí tuệ loài người. Điều này, những người đi trước đã nhấn mạnh rồi.

Trường hợp được gọi là “dai dẳng” trong luận bàn qua các giai đoạn lịch sử của xã hội Việt Nam, có thể dám nhận, đó là trường hợp nói về vai trò của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Đã có nhiều người khi để tâm nghiên cứu, tìm hiểu đến con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh đã phải thốt lên rằng: “Đây là một trường hợp mà lịch sử đã tốn khá nhiều giấy và mực…!”.

Sự “tốn” giấy mực của một xã hội về một con người, đủ để thấy những tác động sâu sắc của tư tưởng của cá thể đó đến cuộc sống tinh thần của xã hội, của những lớp người đi sau. Đồng thời nó cũng bộc lộ sự hiểu biết giới hạn từng mặt của những người nêu chính kiến về con người mình quan tâm. Chính sự ít đọc và không đọc, hoặc không được đọc (ở trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh còn cả việc không đọc được), mà đến cả những thành viên là hậu duệ của chính con người đó cũng đi tới chỗ mắc sai lầm trong hành xử, vì đã không đọc những gì liên quan đến con người đó. Cho nên đã không kế thừa được những chân giá trị cao quý trong tư tưởng của con người đó, mà đã không kế thừa được thì làm sao phát huy được ?! Hoặc vì khôngđọc nên sinh ra tính thiển cận, nhìn sự thể với con mắt phiến diện, sinh ra tính tỵ nạnh đến mức đố kỵ với chính những ai hiểu được tư tưởng của nhân vật đó. Vì vậy, điều này cũng là sự lý giải cho việc một số “gương mặt” trong cuộc sống văn hóa xã hội đã từng bình luận méo mó, thậm chí kết luận méo mó về giá trị thật, về chân dung thật và về tư tưởng thật của con người lịch sử đó.

Nhìn nhận với quan điểm trên, BBT tannamtu.com xin được tiếp tục giới thiệu với bạn đọc một trong hàng trăm bài viết của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh có chuyên đề về đề tài Giáo dục, đăng trên chính tờ báo do mình là chủ bút đầu những năm 30 ở Việt Nam. Đây là một bài viết mà khi đọc, chúng ta sẽ không thể phủ nhận được những kiến thức giản dị nhưng sâu sắc về xã hội và giáo dục của người viết ở hoàn cảnh đất nước đang thoát thai, hình thành một cuộc sống văn hóa, chính trị và lối sống mới. Chúng ta cũng sẽ không thể phủ nhận được tinh thần yêu dân tộc, yêu đất nước này đến mức lo lắng cho tương lai của một Quốc gia, nếu người dân không được hưởng một nền giáo dục đúng. Tác giả đã nức nở bày tỏ nguyện vọng: để có được một dân tộc phát triển, trong một Quốc gia văn minh, ông đã “hét” lên: “ Tôi cầu mong như vậy !”.

Tất cả những “đánh giá” tiêu cực của ai đó trong quá khứ về con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, thực chất là sự bộc lộ mặc nhiên của sự phiến diện, không hiểu và không biết về Nguyễn Văn Vĩnh do: ít đọc !

BBT tannamtu.com

Ghi chú về người dịch.

130304_Scan20001

Bà Nguyễn Thị Mười và ông Bùi Tường Trác chụp nhân lễ thượng thượng thọ năm 2007 tại thành phố HCM

Bà Nguyễn Thi Mười sinh năm 1919. Là con gái thứ tư của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Năm 1940, trước khi lập gia đình, bà thôi học trường Lycée và theo học lớp y tá cao cấp tại bệnh viện Lanessan ở Hà Nội (Nay là bệnh viện TW.Quân đội 108). Sau khi lập gia đình với ông Bùi Tường Trác, bà sống và tham gia kháng chiên trên xã Ấm Thượng, huyện Hiệp Hòa tỉnh Phú Thọ cho đến sau 1954. Hiện nay, bà sống trong thành phố Hồ Chí Minh.

Bài dịch này được bà Nguyễn Thị Mười chuyển ngữ sang tiếng Việt từ hơn 20 năm trước, với mục đích để giúp các hậu duệ trong gia tộc hiểu về những tư tưởng của người cha mình.

BBT chúng tôi xin được đăng làm 3 ngày liên tiếp. Mong các quý vị đón đọc

 

Bộ mặt thật của nền giáo dục

        (Le véritable aspect de la question de l’enseignement)

( Báo L’Annam Nouveau-Nước Nam mới, số141, 144 và 145 ra ngày 6, 14 và 19.6.1932 )

        Đối với đa số đồng bào ta ở trong nước, lâu nay vẫn theo hai cách giáo dục :

        1. Nền giáo dục truyền thống, dạy bằng chữ Nho là cách thật và duy nhất dạy các em học sinh sự hiểu biết  về LễNghĩa. Nhưng do những khó khăn thực tế của cuộc sống hàng ngày nên đã đẩy chúng ta tới sự coi thường và thậm chí bỏ hẳn; cách giáo dục mà chỉ có các nhà Nho làm được và giờ đây họ dần như biến mất. Còn lại đôi ba người hiếm hoi, do hoàn cảnh khách quan, tự họ cũng đã chọn một diện mạo mới của những nhà học giả tân thời, tức là đã Âu hóa còn hơn cả lớp trẻ được đào tạo trong các trường học của Pháp. Có một số khác lại khư khư nắm giữ những quan niệm cũ để rơi vào cảnh túng quẫn, bần hàn.

        2. Nền giáo dục chính thức hiện nay của người Pháp, thường tỏ ra như một phương thức để chuẩn bị cho những sản phẩm của mình chuẩn bị cho những vị trí làm việc trong hệ thống của Nhà cầm quyền, hoặc có một số sẽ làm việc cho tư nhân. Cách giáo dục được khởi đầu từ những tổ chức danh giá, nhưng vai trò của nó đã được hoàn tất để rồi đương nhiên, khi các học sinh ra trường thì hầu hết bộ máy đã thừa biên chế.

       “Mật ít, ruồi nhiều” đúng như người Nam ta vẫn nói.

       Cả hai cách đã nêu, đều thất bại !

       Cách thứ nhất, do không đáp ứng được những yêu cầu thiết thực cho cuộc sống, đến mức, chính những người sinh đẻ ra nó lại trở thành những người đầu tiên từ bỏ nó.

       Cách thứ hai, đẻ ra quá nhiều người học xong, cần có việc làm, trong lúc thực tế việc làm lại có quá ít.

       Dân chúng An Nam đã rơi vào tình cảnh lúng túng, chẳng còn biết đi theo lý tưởng nào ??? Chết nỗi, lúc nào người ta cũng phải có một lý tưởng, kể cả những việc bình thường như một ông bố luôn lo toan tương lai cho con mình.

       Còn đâu lý tưởng, khi một một ông quan Nho giáo, quyết định gửi con vào học ở trường “Lycée Albert Sarraut” để sau này mong sẽ thành một bác sỹ, kỹ sư hoặc luật sư. Chẳng khác gì, một người bố theo Âu học và lo cho con mình phù hợp với những thực tế hiện tại.

      Ở người thứ nhất thể hiện điều gì ? Đó là sự chối bỏ quá khứ của chính mình nhưng lại muốn giữ được bộ mặt của người có danh hão. Thực ra danh hão đó chỉ nói lên điều: anh chỉ còn là kẻ sống sót của một lớp người mà thời buổi này chẳng còn nhiệm vụ gì để lo.

       Ở người thứ hai, đó chỉ là một cuộc đấy tranh sinh tồn thông thường giành sự sống cho con mình, cho lợi và lộc thật nhiều, kể cả nó có thiếu tính bền vững hay đôi khi tàn độc.

       Cả hai đối tượng này người này đều tự nhận thấy mình chẳng có công lao gì cho đời. Trong xã hội phương Tây, không thiếu gì những tư tưởng tiến bộ cũng như sự công bằng, nó có đủ sức quyến rũ đối với những tâm hồn Á Đông chúng ta. Nhưng chúng ta lại đang sống vào đúng thời điểm mà xã hội tiến bộ đang tự nghi ngờ mình, khi mà những thành quả tốt đẹp của khoa học bắt đầu lộ rõ giá trị giản dị, tinh tế, không ồn ào. Điều này đã làm cho cuộc sống thêm rắc rối. Chúng ta chưa bao giờ đặt mình vào lòng một cuộc sống với đầy những lý thuyết vị tha nhưng lại mang tính dối trá đối với hạnh phúc của nhân loại. Lý thuyết đó chỉ tồn tại với phần nhân loại sống khốn khổ và luôn có ảo tưởng về một sự tốt đẹp trời cho với sự bình đẳng tự nhiên mà chẳng biết định nghĩa thế nào !

      Những suy nghĩ tôi trình bày trên đây, có đa số quần chúng nhân dân không nghĩ như vậy, nhưng họ lại cảm nhận được sự thể đúng như thế. Họ thấy như bị bỏ rơi giữa ngã ba đường, nơi mà họ bị dắt tới. Họ thấy thiếu một sự hướng dẫn nghiêm chỉnh để chúng ta có một nền giáo dục phù hợp với dân ta.

      Không nên hiểu một nền giáo dục phù hợp là một loại hỗn hợp, mà trong đó có thành phần định tính thực dụng nhiều hay ít như Chủ nghĩa thực dụng theo quan điểm phương Tây, bởi lẽ dân ta đang đứng trước những vấn đề sống còn trên thực tế chưa hề gặp phải. Sự can thiệp của người Pháp, thực chất chỉ là một sự đổi ngôi của tầng lớp cai trị, họ bỏ mặc đa số người dân vẫn lầm lũi theo cách sống và mức sống như cách đây nửa thế kỷ. Bộ phận những người có cuộc sống khác nhờ việc thay đổi tư duy sống chỉ là một nhóm nhỏ không đáng kể trong dân chúng. Việc đem lại sự thay đổi trong xã hội, hiển nhiên là kết quả của việc sử dụng chữ viết mới: chữ Quốc ngữ mà chúng ta vẫn biết ơn các nhà truyền giáo phương Tây cùng với một vài yếu tố của tiếng Pháp trong một chương trình giáo dục tối thiểu dành cho cấp tiểu học trên quan điểm Âu Châu. Nhưng về căn bản, chúng ta vẫn phải dựa vào cái lịch sử đáng trân trọng mà chúng ta vừa thoát ra !

      Họ không thể tự thấy được sự cần thiết đối với một xã hội thuần nhất như xã hội ở đất nước An Nam, một xã hội luôn kiên trì với một mô thức sống riêng, mang nặng sự thể hiện những tố chất riêng biệt của một dân tộc. Rõ ràng phải có một nền giáo dục khác, cụ thể phải là một nền giáo dục được trang bị ở mức độ cao về đạo đức và lòng hướng thiện cùng với tính hợp lý của nó.

      Công việc giáo dục, đào tạo tầng lớp thanh niên một cách hợp lý sẽ trở thành huyền thoại. Một xã hội muốn phát triển, nhất thiết phải dựa vào những nguyên tắc căn bản nhằm làm ổn định nền tảng chính của nó. Nó sẽ làm cho mỗi con người không phải chỉ là những thành phần suy luận của sự hợp lý, mà mỗi thành viên của xã hội phải là một phần không thể tách rời, phù hợp với chính môi trường đã sản sinh ra nó. Mọi nguyên tắc được hình thành trong thế giới này đã phải trải qua hàng ngàn năm, và mỗi nguyên tắc đó đều mang theo những hình thức riêng được xác định và cấu thành từ chính những điều kiện lịch sử và địa lý của nó. Người ta không thể tự tạo ra cho riêng mình những nguyên tắc mới hàng ngày. Những dân tộc lớn, là những dân tộc tự đặt ra cho mình những nguyên tắc được sinh ra từ những thử thách và nó cũng không thể bị loại bỏ một cách thiếu căn cứ, hay còn gọi là: vô thưởng, vô phạt !

      Nước Nhật trở nên hùng mạnh vì họ đã thừa nhận một số những phương pháp của người Âu Châu, nhưng cuối cùng, họ chỉ thắng với điều kiện vẫn là Nhật Bản, hoặc phải trở lại là Nhật Bản ! Trong cơn lôi cuốn tìm đến sức mạnh, họ đã có lúc quên mình là Nhật hoặc định thôi không phải là Nhật Bản nữa. Nước Trung Hoa, nếu muốn Âu hóa, họ sẽ chỉ còn là một nước vô chính phủ rộng lớn, và nếu họ bỏ quên những tinh túy của dân tộc. Tinh túy của dân tộc Trung Hoa chính là nền tảng đích thực của sức mạnh và sự tồn tại muôn đời của họ.

      Vì vậy, người An Nam mình vẫn phải giữ là người An Nam nếu chúng ta muốn tận dụng được những thành quả tốt đẹp của nền văn minh Châu Âu mà người Pháp đã đem đến một phần ở đất nước này. Trong một mức độ nào đó, vị trí chỗ đứng lịch sử đã tạo cho chúng ta có tư tưởng Âu Tây, mà chúng ta vẫn giữ được những nguyên lý từ ngàn xưa trong việc tạo ra sức mạnh cho dân tộc mình, đó sẽ là nét riêng biệt của chúng ta, và chúng ta hãy phát huy cho nó nổi bật thành tính cách của dân tộc này, bộ mặt riêng của dân tộc này, và là tài lực riêng của dân tộc này. 

       Việc giữ nguyên mình là người An Nam, không có nghĩa là chỉ giữ tác phong, kiểu cách vẻ ngoài do ta đã có vì chịu tác động trong những hoàn cảnh nào đó. Muốn giữ được mình, trước tiên phải có được một hệ thống giáo dục riêng của dân An Nam, dạy bảo và nuôi nấng trẻ em để trở thành người Nam thực sự. Giữ vững những tính cách tích cực đã từng tạo nên sức mạnh An Nam, sức mạnh đã được thử thách qua bao thăng trầm của quá khứ với lịch sử khốc liệt.

        ( Còn nữa).

        Người dịch từ Pháp ngữ: Nguyễn Thị Mười.

        Chỉnh sửa và hiệu đinh kỹ thuật: BBT tannamtu.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *