Khai-bút (Premiers coups de pinceau) Đông Dương tạp chí, số 38, ra ngày 25/2/1914

 

KHAI-BÚT

(Premiers coups de pinceau)

Đông Dương tạp chí, số 38, ra ngày 25/2/1914

Mấy hôm tết, chơi xuân đã khí chán. Tuổi ba-mươi tính hay nhẩy, mà cũng đến đóng cửa ngồi nhà, băn khoăn suốt sáng, hồ nhấp nháy con mắt, tiếng pháo dật nảy mình. Đền này trống, chùa nọ chuông, ròm sang mấy nhà láng riềng, thì đây thấy đèn hương bàn độc cúng giữa giời; đó thấy đốt vàng hồ tiền giấy. Lũ trẻ nhà thì thấp thỏm đợi đến lượt nhà đốt pháo. Dưới ánh đèn giong mấy giò thủy-tiên trông thấy nở, mùi hương ngào ngạt, nhắc cho kẻ nhớ xa nghĩ đến những cảnh đôi ba mươi năm về trước.

Dần dần tiếng pháo tiếng chuông, tiếng trống cũng thưa thưa. Trẻ con, người lớn lần lượt ngủ lăn, kẻ cạnh giường, người trên ghế, nhường chỗ cao sang cho ông bà ông vải. Hay thay cái tục, một năm được mấy ngày, tổ tiên về ở chung với con cháu !

Sáng mồng một, cửa đóng then gài, nhà nào nhà nấy cũng ngại ngùng không biết ai sông-đất. Cứ mỗi người một sợ mình dữ-vía. Chẳng ai dám thăm ai sớm quá; ai cũng cứ đợi có người sông nhà ta, rồi ta mới dám đi đến nhà người. Dầu chẳng tin chi lành-dữ, cũng ngại việc sông đất cho người. Quanh năm người ta làm ăn khá giả đã vậy, chẳng ra gì lại đổ tại ta. Có nhà đợi mãi chẳng thấy ai đến cho, lại đành sông-đất lấy, chạy ra đình chùa nào kiếm cành lộc, lại trở về đốt chàng pháo, mở cửa ra để rước lấy xuân vào.

Trong nhà thì trên ban thờ ông vải, giường giải chiếu hoa cạp đỏ, có nệm lông chiên; dưới chỗ khách ngồi, tráp trầu cho đầy cho đẹp, quả  mứt cho đủ các mùi, khay chén lau thực sạch, ấm nước đun sôi lúc nào cũng sẵn. Theo kiểu mới cũng có nhà thêm mấy lọ rượu mùi, thuốc-lá, xì-gà vài ba hộp.

Nhà đông con cháu lúc nào cũng sẵn mâm cơm, giò-thủ, thịt đông, cá kho, thịt-bò-hầm bịt lá ; bánh chưng, dưa-hành là đồ nấu trữ. Giầu thì ăn hết tháng giêng, nghèo khó cũng đủ ba ngày tết. Răm bát thang, vài chục cuốn, ấy những cách phiền, bà con đến bắt ăn cho bằng được, kẻo sợ dông quanh năm vì năm mới mời không đắt.

Lũ trẻ-con chầu chực chú bác mở hàng, được răm hào, đứa gửi mẹ để dành, đứa chậy tọt đi mua chàng pháo đốt.

Quần hoa, áo đẹp, vóc, nhiễu, the, sa, hàng Sài-gòn, hàng Thượng-hải, ở đâu giở ra cho hết. Hoa-tai, hạt-vàng, nhẫn-quẩn, nhẫn-mặt, vòng-trạm, xuyến lòng-mo, lá-trúc, ở đâu cũng chuộc về, đeo cho đầy tay hoặc cổ. Nhân đi thăm chị thăm em mà tô điểm cho vui cảnh đường cái.

Đền chùa điện phủ, kéo nhau đi lễ la lễ liệt, trước để cầu lộc cầu tài, sau để gọi là một năm mới có vài ngày đi khoe áo.

Mồng một cho đến mồng ba thì Ngọc-sơn, Quán-thánh, Bạch-mã, Huyền-thiên, Bích-lưu, Bà-đá, Chùa Trại, Tú-uyên, sáng mồng năm xuống Đồng-quang xem giỗ-trận, nhân tiện sang lễ miếu Trung-lương.

Lẩn thẩn ngồi một bên chùa mà ngắm các Hằng-nga vái phật, nghe trộm mấy câu cầu khấn, trắp hai bàn ngón tay trắng nuột, lắc lư mái tóc đen dì, miệng son ngậm miếng trầu mà lẩm nhẩm những điều ao ước, bà thì xin Phật-tổ phù hộ cho đàn con lũ cháu chóng lớn sở-sơ ; lạy Người lại ban cho phát tài sai lộc ; cô thì rì rầm trăm thứ, nhưng chắc hẳn có một thứ thực ước ao mà chẳng dám nói ra, vì tục ta sự muốn nên vợ nên chồng dầu nói thầm với Bụt cũng e-lệ, đành để thần phật hiểu ngầm, gọi là cứ suýt soa vài tiếng cũng đủ. Lễ xong cầm ống thẻ lúc lắc, xin một quẻ xem Ngài dạy làm sao. Tiện việc thì ra cửa chùa, mất vài su đã có thầy đoán hộ, cũng là một nghệ chuyên-môn trăm thẻ thuộc lòng như cháo ; triệu “nhất-ngưu lưỡng-vĩ” mà đoán ra chữ Thất mới sành thay ! Nhưng mà trong Lục-giáp, Mưu-vọng, Hôn-nhân, Gia-trạch, có lẽ đâu cách mấy triệu con người lại thu được trong một trăm quẻ thẻ, cho nên đoán thẻ mạnh ở tài đoán cao, đoán thấp, cát ra hung, hung ra cát, thượng thượng xấu, hạ hạ hay cũng có thường. Người nào muốn vỡ nhời thánh dạy về những nỗi hiểm-hóc trong lòng mình lại cầu đến những tay tài-tình hay-chữ triết ra từng câu, từng chữ, từng ý gần ý xa mà nói. Cầu việc gì cốt đoán cho việc ấy có lẻ thực. Khen thay, một sự tin nhầm mà cũng có nghĩa lý cao sâu, những tục hủ lậu nước Nam giữ được lâu đời cũng bởi trí người khéo vẽ vời tô điểm.

Từ tết cho đến ngày rằm, chùa chiền vui như hội. Mùng tám ở Phủ-dày có phiên-chợ nhà Thánh, mùng chín hội chùa vua Đề-thích, cũng là một chốn tạ dĩ đi cầu sống lâu mà người khoe áo đẹp, kẻ thỏa bụng tìm hoa. Đến rằm là ngày thịnh nhật của các nhà chùa. Tục đã nói lời Phật quanh năm, không bằng rằm tháng giêng. Thời buổi bây giờ phong tục đã thêm dản dị, thì hôm ấy thực là ngày hết tết. Trừ ra các bác gọi cái chơi xuân là đồng tiền, là cái bát thì tết chẳng biết hết lúc nào, có kẻ tết hẳn từ đầu năm đến cuối.

Đó là cảnh tượng ngày tết năm nay. Nhân năm mới, mở ngòi bút mới, bình mực mới thay, tờ giấy trắng nuột, chẳng biết nói chi năm sớm, vẽ vời để khiến cho ai xem cảnh bây giờ, nhớ đến cảnh ngày xưa ; đo bước đường tiến bộ, đoán lây trước cảnh ngày sau.

Tết bây giờ như thế, tết ngày xưa còn lắm cảnh rườm rà, tết vài năm nữa chắc mỗi ngày  một kém. Nhưng e rằng tết kém đi, chẳng phải đâu là người không lên đã biết cần kiệm, đã biết vội làm ăn, đã tiếc ngày giờ. E rằng tết kém chẳng qua vì đồng bạc nó kém mà thôi.

N. V. V.

130214_khaibut

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *